Thoái vốn doanh nghiệp: Quy định và xử lý kế toán, thuế

 Thoái vốn là hoạt động thường phát sinh trong quá trình doanh nghiệp cơ cấu lại danh mục đầu tư, thay đổi tỷ lệ sở hữu hoặc chuyển nhượng khoản vốn đã đầu tư tại doanh nghiệp khác. Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp và bản chất khoản đầu tư, việc thoái vốn có thể được thực hiện theo những cách khác nhau và kéo theo các yêu cầu riêng về pháp lý, kế toán và thuế. Đối với kế toán, việc xác định đúng bản chất giao dịch, giá trị khoản đầu tư được thanh lý, khoản lãi hoặc lỗ phát sinh cũng như nghĩa vụ thuế liên quan là cơ sở để phản ánh chính xác giao dịch trên sổ sách và báo cáo tài chính.

1. Quy định về thoái vốn trong từng loại hình doanh nghiệp

Thoái vốn có thể được hiểu là việc nhà đầu tư rút hoặc chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn đã đầu tư tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, pháp luật doanh nghiệp không quy định một cách thức thoái vốn chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp. Việc rút vốn, chuyển nhượng vốn hoặc cổ phần phải được thực hiện phù hợp với loại hình doanh nghiệp và các quy định pháp luật tương ứng.

Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, khoản 2 Điều 50 Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 quy định thành viên không được rút vốn đã góp ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ các trường hợp được pháp luật cho phép tại các điều khoản liên quan. Như vậy, thành viên không thể tự ý lấy lại phần vốn đã góp chỉ bằng cách yêu cầu công ty hoàn trả vốn. Việc rút vốn phải được thực hiện thông qua những cơ chế phù hợp theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

https://amis.misa.vn/65485/xu-ly-ke-toan-thue-ve-thoai-von/

Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, chủ sở hữu công ty chỉ được rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác theo khoản 5 Điều 77 Luật Doanh nghiệp. Trường hợp chủ sở hữu rút một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ đã góp bằng hình thức khác với quy định, chủ sở hữu và các cá nhân, tổ chức có liên quan có thể phải liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp.

Đối với công ty cổ phần, khoản 2 Điều 119 Luật Doanh nghiệp quy định cổ đông không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp cổ phần được công ty hoặc người khác mua lại. Nếu cổ đông rút một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần đã góp trái quy định, cổ đông đó và người có lợi ích liên quan trong công ty phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần đã bị rút và các thiệt hại xảy ra. Đối với công ty hợp danh, thành viên hợp danh có quyền rút vốn khỏi công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận. Do đó, việc thoái vốn trong công ty hợp danh cũng không chỉ phụ thuộc vào mong muốn của thành viên mà còn phải tuân thủ điều kiện và trình tự theo quy định.

Riêng đối với doanh nghiệp nhà nước, hoạt động thoái vốn đầu tư tại doanh nghiệp khác còn gắn với yêu cầu công khai thông tin. Theo điểm h khoản 1 Điều 110 Luật Doanh nghiệp, doanh nghiệp phải công bố và niêm yết công khai các thông tin bất thường liên quan đến quyết định đầu tư, giảm vốn hoặc thoái vốn đầu tư tại các công ty khác theo thời hạn và hình thức được quy định. Như vậy, trước khi thực hiện một giao dịch thoái vốn, doanh nghiệp cần xác định rõ loại hình doanh nghiệp, chủ thể thực hiện giao dịch và hình thức thoái vốn dự kiến. Đây là cơ sở để xác định giao dịch có được pháp luật cho phép hay không, đồng thời giúp bộ phận kế toán có căn cứ xác định cách hạch toán và hồ sơ cần lưu trữ.

2. Xử lý kế toán đối với giao dịch thoái vốn

2.1. Nhận diện khoản đầu tư khi doanh nghiệp thoái vốn

Về kế toán, thoái vốn không đơn thuần là việc ghi nhận số tiền doanh nghiệp thu được từ bên mua. Kế toán cần xác định doanh nghiệp đã chuyển nhượng bao nhiêu phần vốn, khoản đầu tư sau chuyển nhượng còn tồn tại hay không và quyền kiểm soát hoặc ảnh hưởng đáng kể có thay đổi hay không. Đặc biệt trong các tập đoàn kinh tế, công ty mẹ có thể chỉ bán một phần khoản đầu tư tại công ty con cho một bên thứ ba nhưng vẫn tiếp tục kiểm soát công ty con. Trong trường hợp khác, sau khi bán một phần vốn, công ty con có thể không còn là công ty con mà trở thành công ty liên doanh, liên kết hoặc khoản đầu tư khác tùy theo mức độ quyền kiểm soát, quyền đồng kiểm soát hoặc ảnh hưởng đáng kể còn lại.

Trường hợp doanh nghiệp bán toàn bộ khoản đầu tư vào công ty con, giao dịch có thể dẫn đến việc công ty mẹ chấm dứt khoản đầu tư vào công ty con. Khi đó, kế toán phải thực hiện giảm khoản đầu tư đang được ghi nhận trên sổ kế toán, đồng thời ghi nhận khoản tiền hoặc giá trị tài sản thu được từ giao dịch và xác định phần chênh lệch là lãi hoặc lỗ từ hoạt động chuyển nhượng. Đối với trường hợp thanh lý một phần hoặc toàn bộ khoản đầu tư vào công ty con, kế toán căn cứ vào giá trị hợp lý của khoản thu được từ việc thanh lý để ghi nhận các khoản liên quan. Phần giá trị khoản đầu tư được chuyển nhượng được ghi giảm khỏi TK 221 – Đầu tư vào công ty con. Nếu sau giao dịch, công ty con trở thành công ty liên doanh, liên kết thì phần đầu tư còn lại được phản ánh vào TK 222 – Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết. Nếu không còn ảnh hưởng đáng kể và khoản đầu tư được phân loại là khoản đầu tư khác thì kế toán phản ánh vào TK 228 – Đầu tư khác.

Trường hợp khoản đầu tư trước đó đã được trích lập dự phòng tổn thất, kế toán đồng thời xem xét khoản dự phòng đã ghi nhận để xử lý phù hợp với giao dịch thoái vốn. Nếu giao dịch phát sinh lỗ, phần chênh lệch được ghi nhận vào TK 635 – Chi phí tài chính; nếu phát sinh lãi thì ghi nhận vào TK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính. Về nguyên tắc, có thể khái quát việc thanh lý khoản đầu tư vào công ty con theo hướng: doanh nghiệp ghi nhận khoản tiền hoặc tài sản thu được từ giao dịch, đồng thời giảm giá trị khoản đầu tư tương ứng. Phần chênh lệch sau khi xem xét các khoản liên quan sẽ được phản ánh vào doanh thu hoạt động tài chính hoặc chi phí tài chính tùy theo kết quả của giao dịch.

2.2. Kế toán khi thoái vốn tại công ty liên doanh, liên kết

Đối với khoản đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết, cách xử lý cũng cần căn cứ vào việc doanh nghiệp còn duy trì quyền ảnh hưởng đáng kể sau giao dịch hay không. Khi thanh lý hoặc nhượng bán khoản đầu tư, kế toán ghi nhận giá trị hợp lý của khoản thu được từ giao dịch và đồng thời giảm giá trị ghi sổ của khoản đầu tư tại TK 222 - Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết.

Nếu sau khi chuyển nhượng doanh nghiệp không còn ảnh hưởng đáng kể, phần đầu tư còn lại, nếu có, được chuyển sang TK 228 – Đầu tư khác theo nội dung nguồn. Nếu khoản đầu tư đã được trích lập dự phòng tổn thất thì khoản dự phòng liên quan cũng được xử lý khi xác định kết quả của giao dịch. Trường hợp giá trị thu được từ việc thanh lý thấp hơn giá trị ghi sổ của khoản đầu tư sau khi xem xét các khoản liên quan, phần chênh lệch được ghi nhận vào TK 635 – Chi phí tài chính. Ngược lại, nếu giao dịch phát sinh khoản chênh lệch tăng thì phần lãi được ghi nhận vào TK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính. Như vậy, khi xử lý kế toán giao dịch thoái vốn, vấn đề quan trọng không chỉ nằm ở việc ghi nhận tiền thu được mà còn là xác định đúng trạng thái của khoản đầu tư sau giao dịch. Đây là cơ sở để kế toán lựa chọn tài khoản phù hợp và phản ánh chính xác bản chất kinh tế của giao dịch.

3. Trình bày giao dịch thoái vốn trên Báo cáo tài chính

Sau khi thực hiện hạch toán, doanh nghiệp cần xem xét cách trình bày giao dịch thoái vốn trên báo cáo tài chính. Cách trình bày có sự khác biệt giữa BCTC riêng của công ty mẹ và BCTC hợp nhất, đặc biệt trong trường hợp giao dịch thoái vốn làm thay đổi quyền kiểm soát đối với công ty con.

3.1. Trình bày trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Trên BCTC riêng, khoản lãi hoặc lỗ phát sinh từ giao dịch thoái vốn hoặc chuyển nhượng khoản đầu tư được phản ánh thông qua TK 515 hoặc TK 635. Theo nội dung nguồn, khoản lãi được trình bày tại chỉ tiêu “Doanh thu hoạt động tài chính”, còn khoản lỗ được phản ánh tại chỉ tiêu “Chi phí tài chính”. Việc xác định chính xác giá trị ghi sổ của khoản đầu tư và giá trị thu được từ giao dịch là cơ sở để xác định khoản lãi hoặc lỗ này. Vì vậy, kế toán cần kiểm tra đầy đủ hợp đồng chuyển nhượng, chứng từ thanh toán và hồ sơ xác định giá trị khoản đầu tư trước khi hoàn tất việc ghi nhận. Trên BCTC hợp nhất, trường hợp giao dịch thoái vốn dẫn đến công ty mẹ mất quyền kiểm soát công ty con, khoản lãi hoặc lỗ từ giao dịch được ghi nhận vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất.

Ngược lại, nếu công ty mẹ chỉ thoái một phần vốn nhưng vẫn duy trì quyền kiểm soát công ty con, phần chênh lệch phát sinh từ giao dịch không được xử lý theo cách giống với trường hợp mất quyền kiểm soát. Theo nội dung nguồn, phần chênh lệch được hạch toán trực tiếp vào vốn chủ sở hữu hoặc lợi nhuận chưa phân phối trên Bảng cân đối kế toán hợp nhất.

3.2. Trình bày trên Báo cáo tình hình tài chính

Trên BCTC riêng của công ty mẹ, các khoản đầu tư vào công ty con, công ty liên doanh, liên kết và các khoản đầu tư khác được trình bày tương ứng tại các chỉ tiêu đầu tư trên Báo cáo tình hình tài chính. Theo nội dung nguồn, BCTC riêng phản ánh các khoản đầu tư này theo phương pháp giá gốc và không áp dụng phương pháp vốn chủ sở hữu.

Khi doanh nghiệp thoái vốn, kế toán cần xác định khoản đầu tư còn lại sau giao dịch thuộc loại hình nào để phân loại và trình bày phù hợp. Chẳng hạn, nếu sau khi chuyển nhượng, khoản đầu tư tại doanh nghiệp khác vẫn đáp ứng điều kiện để được xác định là khoản đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết thì tiếp tục được phân loại tương ứng. Nếu không còn ảnh hưởng đáng kể, khoản đầu tư còn lại có thể được chuyển sang nhóm đầu tư khác theo quy định.

Đối với BCTC hợp nhất, khoản đầu tư vào công ty con được xử lý trong quá trình hợp nhất và được loại trừ khi thực hiện cộng gộp báo cáo. Trường hợp sau khi thoái vốn, khoản đầu tư còn lại được xác định là khoản đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết thì khoản đầu tư này được trình bày theo phương pháp vốn chủ sở hữu trên BCTC hợp nhất theo nội dung nguồn.

3.3. Trình bày trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Bên cạnh Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo tình hình tài chính, dòng tiền phát sinh từ hoạt động thoái vốn cũng cần được phản ánh trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Số tiền thực tế thu được từ việc thoái vốn hoặc chuyển nhượng khoản đầu tư được trình bày tại chỉ tiêu “Tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác” – Mã số 26, thuộc nhóm lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư. Việc phản ánh dòng tiền thu hồi từ khoản đầu tư vào hoạt động đầu tư giúp người sử dụng báo cáo tài chính phân biệt khoản tiền thu được từ hoạt động thoái vốn với dòng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp.

4. Thuế TNCN khi cá nhân thực hiện thoái vốn

Thoái vốn được thực hiện thông qua việc chuyển nhượng phần vốn góp hoặc cổ phần có thể phát sinh nghĩa vụ thuế đối với nhà đầu tư. Đối với nhà đầu tư là cá nhân, khoản thu nhập từ giao dịch chuyển nhượng vốn thuộc phạm vi điều chỉnh của thuế thu nhập cá nhân theo các quy định được nguồn dẫn chiếu. Theo Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 09/2026/QH16, cùng với Nghị định 253/2026/NĐ-CP và Thông tư 87/2026/TT-BTC, thu nhập từ chuyển nhượng vốn thuộc nhóm thu nhập chịu thuế TNCN. Khi xử lý thuế TNCN đối với hoạt động thoái vốn, cần phân biệt giữa chuyển nhượng vốn góp, chuyển nhượng chứng khoán và chuyển nhượng chứng khoán phái sinh. Mỗi loại giao dịch có cách xác định thu nhập tính thuế và thuế suất khác nhau.

4.1. Cá nhân chuyển nhượng phần vốn góp

Đối với cá nhân cư trú chuyển nhượng phần vốn góp, thu nhập tính thuế được xác định bằng giá chuyển nhượng trừ giá mua của phần vốn chuyển nhượng và các chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ chuyển nhượng vốn. Theo nội dung nguồn, thuế TNCN phải nộp được xác định bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất 20%.

Trong trường hợp không xác định được giá mua và các chi phí liên quan, thuế được tính trực tiếp trên giá chuyển nhượng theo mức 2% được nêu trong nguồn.

Ví dụ, ông A góp vốn 5 tỷ đồng để thành lập Công ty TNHH B. Sau đó, ông A chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp với giá 5,5 tỷ đồng. Thu nhập tính thuế của ông A được xác định:

5,5 tỷ đồng – 5 tỷ đồng = 500 triệu đồng.

Thuế TNCN phải nộp: 500 triệu đồng × 20% = 100 triệu đồng.

Như vậy, khi cá nhân thoái vốn thông qua chuyển nhượng phần vốn góp, kế toán hoặc bộ phận phụ trách thuế cần xác định đầy đủ giá chuyển nhượng, giá mua và các chi phí hợp lý liên quan để làm cơ sở xác định thu nhập tính thuế.

4.2. Cá nhân chuyển nhượng chứng khoán

Đối với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán, thu nhập tính thuế được xác định theo giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần theo nội dung nguồn. Thuế TNCN được xác định bằng giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần nhân với thuế suất 0,1%.

Ví dụ, ông D sở hữu cổ phần tại một công ty niêm yết và thực hiện chuyển nhượng 300.000 cổ phần với giá khớp lệnh bán là 16.000 đồng/cổ phần. Tổng giá trị chuyển nhượng là:

300.000 × 16.000 = 4,8 tỷ đồng.

Thuế TNCN phải nộp: 4,8 tỷ đồng × 0,1% = 4,8 triệu đồng.

Cách xác định này cho thấy việc chuyển nhượng chứng khoán có phương pháp tính thuế khác với chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn. Vì vậy, khi xử lý một giao dịch thoái vốn, trước hết cần xác định chính xác bản chất của tài sản được chuyển nhượng.

4.3. Cá nhân chuyển nhượng chứng khoán phái sinh

Đối với chứng khoán phái sinh, thu nhập tính thuế được xác định theo quy định riêng. Theo nội dung nguồn, đối với hợp đồng tương lai, giá chuyển nhượng từng lần được xác định dựa trên giá thanh toán, hệ số nhân hợp đồng, số lượng hợp đồng và tỷ lệ ký quỹ ban đầu theo công thức được quy định. Thuế TNCN được xác định bằng giá chuyển nhượng hợp đồng tương lai từng lần nhân với thuế suất 0,1%.

Ví dụ, ông M ký 10 hợp đồng tương lai VN30F, giá thanh toán tại thời điểm xác định thu nhập tính thuế là 1.300 điểm, hệ số nhân hợp đồng là 100.000 đồng/điểm và tỷ lệ ký quỹ ban đầu là 17%.

Giá chuyển nhượng hợp đồng tương lai từng lần theo công thức trong nguồn là:

(1.300 × 100.000 × 10 × 17%) ÷ 2 = 110,5 triệu đồng.

Thuế TNCN phải nộp: 110,5 triệu đồng × 0,1% = 110.500 đồng.

5. Thuế TNDN khi doanh nghiệp thực hiện thoái vốn

Đối với nhà đầu tư là doanh nghiệp, giao dịch thoái vốn có thể phát sinh thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo Luật Thuế TNDN số 67/2025/QH15 và Nghị định 320/2025/NĐ-CP được nguồn dẫn chiếu, thu nhập từ chuyển nhượng vốn và chuyển nhượng chứng khoán được xác định là thu nhập khác và được xác định riêng theo quy định.

5.1. Thuế TNDN đối với chuyển nhượng vốn

Đối với chuyển nhượng vốn, thu nhập tính thuế được xác định bằng giá chuyển nhượng trừ giá mua của phần vốn chuyển nhượng và các chi phí chuyển nhượng. Giá chuyển nhượng là tổng giá trị thực tế mà bên chuyển nhượng thu được theo hợp đồng chuyển nhượng. Trong khi đó, giá mua được xác định tùy thuộc vào nguồn gốc hình thành phần vốn. Nếu là phần vốn góp để thành lập doanh nghiệp, giá mua được xác định dựa trên giá trị phần vốn góp lũy kế đến thời điểm chuyển nhượng trên cơ sở sổ sách, hồ sơ và chứng từ kế toán được các bên xác nhận theo nội dung nguồn. Nếu là phần vốn được mua lại, giá mua được xác định căn cứ vào giá trị vốn tại thời điểm mua, hợp đồng mua lại phần vốn góp và các chứng từ thanh toán liên quan.

Chi phí chuyển nhượng có thể bao gồm chi phí thực hiện thủ tục pháp lý, phí và lệ phí phải nộp, chi phí giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng và các khoản chi phí khác có đầy đủ chứng từ chứng minh. Theo nội dung nguồn, thuế suất TNDN áp dụng là 20% trên thu nhập tính thuế đối với doanh nghiệp Việt Nam.

Ví dụ, Công ty A góp 100 tỷ đồng để thành lập một công ty TNHH. Sau đó, Công ty A chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp với giá 130 tỷ đồng. Chi phí liên quan đến giao dịch chuyển nhượng là 1 tỷ đồng.

Thu nhập tính thuế được xác định: 130 tỷ – 100 tỷ – 1 tỷ = 29 tỷ đồng.

Thuế TNDN phải nộp: 29 tỷ × 20% = 5,8 tỷ đồng.

Qua ví dụ này có thể thấy, khi doanh nghiệp thực hiện thoái vốn, việc tập hợp đầy đủ hồ sơ chứng minh giá mua và chi phí chuyển nhượng có ý nghĩa quan trọng. Các khoản này là cơ sở để xác định thu nhập tính thuế theo phương pháp được nguồn dẫn chiếu.

5.2. Thuế TNDN đối với chuyển nhượng chứng khoán

Đối với chuyển nhượng chứng khoán, thu nhập tính thuế được xác định bằng giá bán chứng khoán trừ giá mua và các chi phí liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng. Đối với chứng khoán niêm yết hoặc chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm yết nhưng đăng ký giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán, giá bán được xác định theo giá thực tế bán chứng khoán, có thể là giá khớp lệnh hoặc giá thỏa thuận theo thông báo của Sở giao dịch chứng khoán.

Đối với chứng khoán không thuộc các trường hợp trên, giá bán được xác định theo giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng chuyển nhượng. Giá mua chứng khoán cũng được xác định tùy theo phương thức mua. Nếu mua thông qua khớp lệnh hoặc thỏa thuận trên thị trường, giá mua căn cứ vào giá thực mua. Nếu mua thông qua đấu giá, giá mua căn cứ vào kết quả trúng đấu giá và chứng từ liên quan. Đối với các trường hợp khác, giá mua được xác định theo giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng.

Chi phí chuyển nhượng được trừ khi xác định thu nhập tính thuế phải là các khoản chi thực tế liên quan trực tiếp đến giao dịch và có chứng từ, hóa đơn hợp pháp. Các khoản có thể bao gồm chi phí thực hiện thủ tục pháp lý, phí và lệ phí, phí lưu ký chứng khoán, phí ủy thác chứng khoán, chi phí giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng và các chi phí khác có chứng từ chứng minh. Theo nội dung nguồn, thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán được xác định là thu nhập khác và áp dụng thuế suất TNDN 20% trên thu nhập tính thuế đối với doanh nghiệp Việt Nam.

Ví dụ, Công ty C sở hữu 3 triệu cổ phần của Công ty cổ phần D và mua số cổ phần này với giá 13.000 đồng/cổ phần. Sau đó, Công ty C bán toàn bộ số cổ phần với giá khớp lệnh 16.000 đồng/cổ phần, chi phí chuyển nhượng là 150 triệu đồng.

Giá bán chứng khoán: 3.000.000 × 16.000 = 48 tỷ đồng.

Giá mua chứng khoán: 3.000.000 × 13.000 = 39 tỷ đồng.

Sau khi trừ 150 triệu đồng chi phí chuyển nhượng, thu nhập tính thuế là: 48 tỷ – 39 tỷ – 150 triệu = 8,85 tỷ đồng.

Thuế TNDN phải nộp: 8,85 tỷ × 20% = 1,77 tỷ đồng.

5.3. Lưu ý đối với nhà đầu tư nước ngoài

Đối với nhà đầu tư nước ngoài, việc xác định nghĩa vụ thuế khi thoái vốn cần được xem xét riêng theo quy định áp dụng cho tổ chức nước ngoài có hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam. Theo nội dung nguồn, Luật Thuế TNDN 2025 quy định Chính phủ ban hành quy định về số thuế TNDN phải nộp theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu đối với doanh nghiệp nước ngoài có hoặc không có cơ sở thường trú có thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam. Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài có thu nhập từ chuyển nhượng vốn có thể chịu thuế theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị chuyển nhượng, không phụ thuộc vào việc giao dịch chuyển nhượng phát sinh lãi hay lỗ.

Đối với chuyển nhượng chứng khoán, tổ chức nước ngoài không hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam khi chuyển nhượng chứng khoán thực hiện nghĩa vụ thuế TNDN theo tỷ lệ được quy định trên doanh thu bán chứng khoán. Đối với chuyển nhượng vốn góp, tỷ lệ tính thuế được thực hiện theo quy định tại Nghị định 320/2025/NĐ-CP.

Do đó, với các giao dịch thoái vốn có yếu tố nước ngoài, doanh nghiệp cần xác định đúng chủ thể chuyển nhượng, loại tài sản được chuyển nhượng và phương thức chuyển nhượng trước khi xác định nghĩa vụ thuế. Đây cũng là trường hợp cần đặc biệt chú ý đến hồ sơ pháp lý, hợp đồng chuyển nhượng và chứng từ thanh toán để có cơ sở kê khai thuế phù hợp.

Kết luận

Thoái vốn là giao dịch có thể đồng thời phát sinh nhiều vấn đề về pháp lý doanh nghiệp, kế toán và thuế. Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp, việc rút vốn hoặc chuyển nhượng vốn có thể được thực hiện theo những cơ chế khác nhau. Sau khi xác định giao dịch được thực hiện phù hợp với quy định, kế toán cần tiếp tục xác định bản chất của khoản đầu tư sau thoái vốn, giá trị ghi sổ, giá trị thu được từ chuyển nhượng và khoản lãi hoặc lỗ phát sinh để hạch toán đúng.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần xác định nghĩa vụ thuế tương ứng với từng chủ thể và từng loại giao dịch. Đối với cá nhân, cần phân biệt chuyển nhượng vốn góp, chứng khoán và chứng khoán phái sinh để xác định cách tính thuế TNCN. Đối với doanh nghiệp, thu nhập từ chuyển nhượng vốn hoặc chứng khoán cần được xác định và kê khai theo quy định về thuế TNDN.

Vì vậy, khi phát sinh nghiệp vụ thoái vốn, kế toán không nên chỉ tập trung vào việc ghi nhận khoản tiền thu được mà cần theo dõi toàn bộ giao dịch từ hồ sơ pháp lý, giá trị khoản đầu tư, phương thức chuyển nhượng, chứng từ thanh toán đến nghĩa vụ thuế và cách trình bày trên báo cáo tài chính. Việc kiểm tra đầy đủ các yếu tố này giúp doanh nghiệp phản ánh đúng bản chất giao dịch và hạn chế sai sót trong quá trình hạch toán, kê khai và quyết toán thuế.

Nguồn: Quy định về thoái vốn trong từng loại hình doanh nghiệp – Xử lý kế toán, thuế liên quan tới thoái vốn - https://amis.misa.vn/65485/xu-ly-ke-toan-thue-ve-thoai-von/

Thông tin khác

Next Post Previous Post