Tiếng chuông lịch sử: Đại hồng chung chùa Thiên Mụ

Hôm nay Công ty AGS sẽ cùng các bạn quay về quá khứ lịch sử Việt Nam để tìm hiểu một trong các bảo vật lịch sử nổi tiếng và có sự ảnh hưởng lớn đến nét văn hóa của dân tộc Việt Nam, đó chính là Đại hồng chung chùa Thiên Mụ tại Huế. Thông qua món bảo vật quốc gia này chúng ta sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn về lịch sử dân tộc, những dấu mốc thăng trầm của tổ quốc từ đó khẳng định lãnh thổ chủ quyền đất nước đến bạn bè thế giới.

Khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc trong mỗi con người Việt Nam, vậy hãy cùng AGS đi tìm hiểu về bảo vật này và giai thoại liên quan để chúng ta có những cái nhìn sâu sắc hơn bạn nhé.

Nguồn gốc linh thiên hình thành Chùa Thiên Mụ

Chùa Thiên Mụ gắn liền sứ mệnh tư tưởng đặc biệt từ thời Nguyễn, giúp Phật giáo đi cùng quốc gia dân tộc, làm nên diện mạo đặc trưng của xứ Đàng Trong. Nhờ sức sống độc đáo suốt chiều dài lịch sử như vậy đã tạo nên hấp lực đặc trưng duy nhất của một ngôi danh lam cổ tự bậc nhất chốn Kinh sư.

Chùa Thiên Mụ đầu thế kỷ XX
Chùa Thiên Mụ đầu thế kỷ XX

Tọa lạc trên ngọn đồi Hà Khê uốn quanh bờ sông Hương, cách cố đô Huế khoảng 5km về phía Tây, "Thiên Mụ Tự" nghiễm nhiên trở thành một thắng cảnh nổi tiếng gắn liền với địa thế "Sông Hương núi Ngự". Tên gọi của chùa bắt nguồn từ hình tượng "Thiên Mụ" – tức bà lão nhà Trời.

Theo truyền thuyết, dưới thời An Nam đô hộ phủ (860–873), Cao Biền theo lệnh vua Đường Ý Tôn đi tìm những vùng đất tốt có vượng khí để lập phép trấn yểm, đã nhận thấy ngọn đồi này có dáng hình đầu rồng đầy linh khí. Tại đây, ông nghe lời tiên báo từ một bà lão tóc bạc mặc áo đỏ quần xanh: "Đời sau, nếu có bậc minh chủ muốn bồi đắp mạch núi, đem lại linh khí cho đồi núi này thì hãy lập chùa thờ Phật...". Nhớ đến điềm lành và huyền thoại ấy, ngay sau khi vào trấn thủ đất Thuận Hóa, Doãn Quốc Công Nguyễn Hoàng (1558–1613) trong một lần đi tuần du bên bờ sông Hương đã quyết định cho xây dựng chùa vào năm 1601 để cầu cho quốc thái dân an, đồng thời tự tay viết biển hiệu là "Thiên Mụ Tự".

Thực tế, chúa Nguyễn Hoàng cho xây dựng lại chùa Thiên Mụ trên nền một ngôi chùa nhỏ đã có trước đó. Điều này được Đỗ Văn An viết năm 1554, trong Ô Châu cận lục... Chùa Thiên Mụ không xây dựng trên một truyền thuyết hay sự ngẫu nhiên mà chùa Thiên Mụ được xây dựng là một sự tất yếu trong tổng thể xây dựng một mái nhà chung để Phật giáo quy mô và rạch ròi thời chúa Nguyễn Hoàng.

Sau này, chúa Nguyễn Phúc Chu (1675–1725) – người kế vị từ năm 1691, có công lớn trong việc mở rộng bờ cõi về phía Nam – dù xuất thân từ dòng dõi Nho học nhưng rất mến mộ đạo Phật. Ông tự đặt đạo hiệu là Thiên Túng đạo nhân và chính thức trở thành người truyền thừa đời thứ 30 của phái Tào Động với pháp danh Hưng Long. Chúa đã mời Thạch Liêm hòa thượng (Thích Đại Sán) từ Trung Hoa sang tổ chức giới đàn, truyền sa di giới và chính ông cũng được Hòa thượng truyền Bồ tát giới, đưa chùa Thiên Mụ phát triển rực rỡ cả về tâm linh lẫn vương quyền.

Đại hồng chung – Bảo vật Quốc gia vượt thời gian

Đại hồng chung – Bảo vật Quốc gia vượt thời gian

Đại hồng chung chùa Thiên Mụ được đúc vào năm 1710 (năm Canh Dần), dưới thời trị vì của Chúa Nguyễn Phúc Chu - thời kỳ Phật giáo Đàng Trong phát triển rực rỡ dưới sự hộ trì của các chúa Nguyễn.

Những dòng chữ khắc trên thân chuông đã xác nhận nguồn gốc cao quý này: "Quốc chúa Đại Việt Nguyễn Phúc Chu, nối dòng Tào Động Chánh Tông đời thứ ba mươi, pháp danh Hưng Long, đúc hồng chung này nặng 3.285 cân, an trí ở chùa Thiên Mụ thiền tự để vĩnh viễn cung phụng Tam bảo. Cầu nguyện gió hòa mưa thuận quốc thái dân an, chúng sinh trong pháp giới đều hoàn thành đại viên chủng trí. Năm Vĩnh Thịnh thứ sáu, ngày Phật đản tháng Tư Canh Dần".

Với trọng lượng tương đương khoảng 1.985,8kg (3.285 cân thời chúa Nguyễn), chiếc chuông là minh chứng cho kỹ thuật đúc đồng điêu luyện và sự huy động nguồn lực to lớn của chính quyền đương thời cho các công trình tâm linh.

Tuyệt tác nghệ thuật đúc đồng

Tuyệt tác nghệ thuật đúc đồng

Nhìn tổng thể, Đại hồng chung chùa Thiên Mụ có hình dáng vô cùng cân đối và oai nghiêm với tổng chiều cao 240cm (thân cao 188cm, quai cao 52cm) cùng đường kính miệng rộng 140cm, tạo ra không gian cộng hưởng âm thanh lý tưởng. Về bố cục ngang, quả chuông được chia làm ba phần chính:

  • Quai chuông (cao 52cm): Được đúc nổi hình con bồ lao hai đầu quay ra hai phía, thân uốn cong có bông sen trên lưng, bốn chân trước đặt lên đỉnh chuông cùng hai mãng xà. Theo truyền thuyết, bồ lao là loài vật yêu thích âm thanh lớn, nên việc tạo hình bồ lao làm quai chuông mang ý nghĩa cầu mong tiếng chuông vang xa.

Tuyệt tác nghệ thuật đúc đồng

  • Thân chuông (cao 188cm): Được phân chia khoa học bằng bốn dải sóng thẳng theo hướng Đông - Tây - Nam - Bắc thành bốn phần đều đặn, chia tiếp thành sáu vùng hoa văn và chữ khác nhau. Ngay tại đỉnh chuông có một lỗ tròn nhỏ – chi tiết kỹ thuật thú vị giúp thoát bớt sức ép âm thanh, bảo vệ chuông khỏi rạn vỡ khi đánh. Hoa văn trên thân chuông thể hiện rõ triết lý phương Đông và sự hài hòa âm dương với bốn hình rồng 5 móng (biểu tượng cho uy quyền đế vương ở tư thế "lưỡng long triều nguyệt") xen kẽ bốn hình chim phượng đang chuyển động sinh động. Đặc biệt, điểm độc đáo ít nơi có được là bộ Bát bửu đúc nổi – sự kết hợp hài hòa giữa Phật giáo và Đạo giáo, trang trí ước lệ cổ điển với dải lụa quấn ngang uốn lượn hai đầu.

Tuyệt tác nghệ thuật đúc đồng

  • Miệng chuông (đường kính 140cm): Phía dưới thân chuông là đường viền nhỏ kèm dải hạt cườm chạy quanh chu vi, loe dần ra phần miệng chuông. Tại đây, nghệ nhân khắc họa đường diềm hoa văn thủy ba (sóng nước) theo lối tả thực mềm mại với bốn lớp sóng lớn và ba lớp sóng nhỏ chạm khắc tỉ mỉ, tạo cảm giác vận động không ngừng nghỉ.

Tuyệt tác nghệ thuật đúc đồng

Một trong những giá trị cốt lõi nhất của Đại hồng chung chùa Thiên Mụ chính là hệ thống văn tự và biểu tượng mang tính triết học sâu sắc. Các motif trang trí trên chuông thể hiện rõ triết lý bao dung, không phân biệt của người Việt thông qua sự dung hòa giữa Phật giáo, Khổng giáo và Đạo giáo - một đặc trưng của tư duy Việt Nam thời bấy giờ.

Thân chuông được chia thành 4 ô lớn, mỗi ô đúc nổi 4 đại tự mang thông điệp cao cả:

"Hoàng đồ củng cố" (mong cơ đồ quốc gia vững bền) 

"Đế đạo hà xương" (chúc đường lối trị quốc hưng thịnh)

"Phật nhật tăng huy" (nguyện ánh sáng Phật pháp thêm rạng rỡ) 

"Pháp luân thường chuyển" (mong bánh xe giáo lý luôn lan tỏa). 

Bên cạnh đó, các dòng chữ nhỏ còn chứa đựng lời cầu nguyện "quốc thái dân an, phong điều vũ thuận" cùng các bài kệ mong chúng sinh siêu thoát, giác ngộ khi nghe tiếng chuông.

Yếu tố Đạo giáo và triết lý vũ trụ thể hiện qua sự hiện diện của Bát quái (Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài) được đúc chính xác theo các hướng tự nhiên (như quẻ Chấn hướng Đông, quẻ Ly hướng Nam).

Đặc biệt, bộ Bát bửu trên chuông có sự biến tấu văn hóa độc đáo. Theo L. Cadière trong bài khảo cứu "Các motif mỹ thuật An Nam", bộ Bát bửu Đạo giáo truyền thống gồm quạt, kiếm, hồ lô, cặp phách, giỏ hoa, ống trúc, cây roi, cây sáo và hoa sen. Tuy nhiên, Đại hồng chung đã thay thế các hình ảnh giỏ hoa, ống trúc, cây roi và hoa sen bằng ống sáo, đèn lồng và bút lông – những biểu tượng mang đậm dấu ấn Phật giáo.

Sự lồng ghép tinh tế này cùng với bia và rùa đá đã khẳng định Đại hồng chung không chỉ là di sản của chùa Thiên Mụ, mà còn là một bảo vật vô giá trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam.

Tuyệt tác nghệ thuật đúc đồng

Sức sống của tiếng chuông trong lòng xứ Huế

Đại hồng chung chùa Thiên Mụ được công nhận là một trong những quả chuông lớn nhất và nổi tiếng nhất Việt Nam, một Bảo vật quốc gia vô giá trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Đây là một tác phẩm nghệ thuật đúc đồng đỉnh cao thời chúa Nguyễn, phô diễn kỹ thuật trang trí tinh xảo qua từng đường nét chạm trổ rồng phụng sinh động và quai chuông hình con bồ lao hai đầu đầy uy quyền.

Trong dòng chảy lịch sử, âm vang của tiếng chuông chùa Thiên Mụ còn tựa như lời nhắc nhở về khát vọng của tiền nhân trong quá trình mở mang bờ cõi về phương Nam. Chính sự gắn kết tâm linh này đã giúp triều đình gần gũi hơn với nhân dân, xây dựng niềm tin và sự ủng hộ của cộng đồng, từ đó củng cố sự ổn định của quốc gia. Với vai trò đó, quả chuông đã trở thành chiếc cầu nối biểu tượng giữa quyền lực chính trị, đức tin tôn giáo và đạo đức truyền thống, hình thành nên hệ tư tưởng chủ đạo cho xã hội đương thời.

Ngày nay, dù không còn được gióng lên hàng ngày để bảo tồn, tiếng chuông Thiên Mụ đã trở thành một "huyền thoại đẹp" của đất thiền kinh, đi sâu vào ca dao, dân ca và tâm thức mỗi người dân xứ Huế.

Như Hòa thượng Thích Minh Châu đã từng nhận xét trong cuốn "Chánh pháp và hạnh phúc": "Tiếng chuông chùa Thiên Mụ biểu trưng cho sự hiện diện của Phật giáo hằng ngày, sớm và chiều tại cố đô Huế, trong lòng mỗi người dân tại Cố đô Huế".

Đại hồng chung cùng với bia và rùa đá tại chùa Thiên Mụ vẫn đứng đó như những chứng nhân lịch sử, không chỉ bảo lưu giá trị nghệ thuật thời chúa Nguyễn mà còn giữ trọn vẹn nhịp đập văn hóa và tâm hồn của người dân Cố đô qua bao thế kỷ.

Công ty AGS cảm ơn bạn đã dành thời gian đọc bài viết của chúng tôi. Hi vọng bài viết có thể cung cấp cho bạn sẽ có những thông tin bổ ích trong cuộc sống và công việc, và mở ra cho các bạn thêm những góc nhìn mới hơn về các vấn đề trong ngành nghề cũng như là các giá trị văn hóa của hai dân tộc Việt Nam - Nhật Bản. Hãy tiếp tục theo dõi chúng tôi đễ có thêm những thông tin bổ ích khác và cơ hội việc làm cực hấp dẫn tại Công ty AGS nữa nhé.

Nguồn: Tổng hợp

Thông tin khác

Next Post Previous Post