Bật mí những điều cần biết về đối tượng kiểm toán
I. Đối tượng kiểm toán là gì?
Đối tượng kiểm toán là tất cả các vấn đề cần được kiểm toán trước hết và chủ yếu là thực trạng hoạt động tài chính tại các đơn vị.
Đối tượng kiểm toán trước hết là các tài liệu kế toán vì đây là điều mà các nhà quản lý, nhà đầu tư quan tâm. Các tài liệu kế toán thường bao gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, các sổ sách, chứng từ kế toán...
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các con số và tài liệu kế toán sẽ không còn ý nghĩa nếu như không gắn liền với thực trạng tài chính của đơn vị kiểm toán. Vì tính chất phức tạp của mối quan hệ tài chính và việc giới hạn trình độ, phương tiện xử lý thông tin nên thông thường kế toán không thể thu thập được tất cả các thông tin tài chính.
Chính vì thế, kiểm toán không chỉ giới hạn đối tượng ở tài liệu kế toán mà còn bao gồm cả thực trạng của hoạt động tài chính dù cho đã được phản ánh hay chưa được phản ánh trong tài liệu kế toán. Hơn nữa để phù hợp với sự phát triển của kế toán và nhu cầu trong quản lý, kiểm toán còn quan tâm đến các lĩnh vực khác của quản lý như: hiệu quả sử dụng các nguồn lực, hiệu năng của các chương trình, mục tiêu, dự án cụ thể…
II. Các loại đối tượng kiểm toán
- Báo cáo tài chính hàng năm được thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng, bao gồm cả các tổ chức tín dụng nước ngoài có trụ sở tại Việt Nam;
- Báo cáo tài chính của doanh nghiệp kinh doanh chứng khoán, tổ chức phát hành chứng khoán;
- Báo cáo tài chính hàng năm của doanh nghiệp nhà nước (trừ doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực bí mật theo quy định của nhà nước);
- Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, tổ chức mà nhà nước sở hữu 20% quyền biểu quyết trở lên tại thời điểm quyết toán;
- Báo cáo tài chính hàng năm của dự án có nguồn tài trợ ODA.
III. Nhân tố hình thành đối tượng kiểm toán
1. Thực trạng hoạt động tài chính
2. Tài liệu kế toán
- Chứng từ;
- Sổ sách kế toán;
- Báo cáo tài chính;
- Báo cáo kế toán quản trị;
- Báo cáo kiểm toán;
- Báo cáo kiểm tra kế toán;
- Các tài liệu khác có liên quan đến kế toán…
3. Thực trạng tài sản và các nghiệp vụ tài chính
Trong một đơn vị kinh doanh hay sự nghiệp, tài sản được biểu hiện dưới nhiều hình thái vật chất khác nhau với yêu cầu về quy cách, phẩm chất, bảo quản, bảo dưỡng... khác nhau, được lưu trữ trên nhiều kho, bãi khác nhau với những người quản lý khác nhau.
Mối liên hệ giữa những người quản lý cũng như giữa người quản lý với người sở hữu tài sản cũng được thực hiện theo những xu hướng và phương thức khác nhau, ngoài ra các xu hướng này ngày càng tăng dần sự cách biệt giữa người sở hữu với người bảo quản và sử dụng tài sản.
Mặt khác, khi sản xuất phát triển, quy mô tài sản cũng tăng lên, quy mô kinh doanh mở rộng, các mối liên kết kinh tế sẽ ngày càng đa dạng, phức tạp dẫn đến khả năng cách biệt giữa tài sản với sự phản ánh của nó trong thông tin kế toán...
Thực tế đó đã thúc đẩy sự ra đời của kiểm toán cùng tính tất yếu là phải đặt thực trạng của tài sản vào đối tượng kiểm toán.
Tài sản trong kinh doanh có dạng vật chất và nguồn hình thành đa dạng, chúng luôn vận động và được thể hiện bởi các nghiệp vụ cụ thể. Dựa trên quá trình vận động này, đặc tính riêng của từng loại tài sản, mối quan hệ kinh tế của mỗi loại và sự đa dạng của các nghiệp vụ nên kiểm toán được chia thành các phần hành kiểm toán cụ thể phù hợp với đối tượng của mình, gồm:
- Kiểm toán các nghiệp vụ vật tư;
- Kiểm toán các nghiệp vụ về tiền mặt hoặc quỹ;
- Kiểm toán các nghiệp vụ của quá trình kinh doanh;
- Kiểm toán các nghiệp vụ tạo vốn và hoàn trả vốn.
4. Hiệu quả và hiệu năng
- Đây là đối tượng mới phát sinh của kiểm toán và nó bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ thập kỉ 80 của thế kỉ XX trở lại đây;
- Hiệu quả và hiệu năng là một bộ phận của kiểm toán nghiệp vụ và gắn liền với một nghiệp vụ hay một dự án, một chương trình cụ thể;
- Trước khi tiến hành cuộc kiểm toán hiệu năng, hiệu quả thì cần phải đặt ra các chuẩn mực cụ thể và rõ ràng. Các chuẩn mực cụ thể ở đây có thể là mục tiêu, quy trình, nội quy, các thông số kỹ thuật hoặc các chỉ tiêu kinh tế…;
- Thường thì việc đặt ra các chuẩn mực cho kiểm toán hiệu năng là khó hơn cho các chuẩn mực kiểm toán hiệu quả;
- Đối với việc đặt ra các chuẩn mực cho tính hiệu năng thì chúng luôn bao gồm các mục tiêu và mục đích cụ thể của tổ chức, còn các chuẩn mực cho tính hiệu quả thì thường được xác định bởi mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra.
IV. Quy định về kiểm toán Báo cáo tài chính
1. Thực trạng kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam
Kiểm toán báo cáo tài chính là một trong những yếu tố quan trọng để đảm bảo tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin tài chính doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp có vốn nhà nước, tổ chức tín dụng, doanh nghiệp niêm yết, kiểm toán báo cáo tài chính là yêu cầu bắt buộc theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp tư nhân, bao gồm công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn, chưa bắt buộc phải kiểm toán định kỳ.
Việc nhiều doanh nghiệp có quy mô lớn nhưng chưa thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính khiến cho thông tin tài chính thiếu độ tin cậy. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thẩm định tài chính khi doanh nghiệp cần tiếp cận nguồn vốn vay từ tổ chức tín dụng hoặc tham gia vào các giao dịch tài chính quan trọng.
2. Đối tượng bắt buộc kiểm toán báo cáo tài chính
Nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.
- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Nhóm tổ chức tài chính và doanh nghiệp niêm yết
- Tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng.
- Tổ chức tài chính, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
- Công ty đại chúng, tổ chức phát hành chứng khoán, tổ chức kinh doanh chứng khoán.
Nhóm doanh nghiệp có vốn nhà nước và doanh nghiệp lớn
- Doanh nghiệp nhà nước (trừ những doanh nghiệp thuộc bí mật quốc gia theo quy định pháp luật).
- Doanh nghiệp cổ phần hóa có vốn góp của Nhà nước từ 50% trở lên.
- Doanh nghiệp mà tập đoàn, tổng công ty nhà nước hoặc tổ chức niêm yết nắm giữ từ 20% quyền biểu quyết trở lên.
- Doanh nghiệp thực hiện các dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A sử dụng vốn nhà nước.
- Doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam.
3. Chế tài xử phạt đối với đơn vị không thực hiện kiểm toán
- Không thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính: Phạt tiền và yêu cầu bổ sung báo cáo kiểm toán.
- Nộp báo cáo tài chính không có kiểm toán: Không được chấp nhận bởi các cơ quan quản lý, ảnh hưởng đến việc tiếp cận vốn vay, đấu thầu hoặc hợp tác kinh doanh.
- Kiểm toán viên hoặc công ty kiểm toán vi phạm chuẩn mực kiểm toán: Bị xử lý theo quy định pháp luật, có thể bị đình chỉ hoạt động.
4. Định hướng quản lý và tăng cường thực hiện kiểm toán
- Phối hợp với các cơ quan liên quan để phổ biến quy định về kiểm toán.
- Yêu cầu các tổ chức tài chính, cơ quan quản lý không chấp nhận báo cáo tài chính chưa được kiểm toán đối với doanh nghiệp thuộc diện bắt buộc.
- Xem xét mở rộng đối tượng bắt buộc kiểm toán báo cáo tài chính trong tương lai để phù hợp với thông lệ quốc tế.
V. CÂU HỎI THƯỜNG GẶP VỀ ĐỐI TƯỢNG KIỂM TOÁN
1. Để kiểm tra tài sản và các nghiệp vụ tài chính của đơn vị, cần thực hiện các phần hành kiểm toán nào?
2. Tại sao đối tượng kiểm toán lại bao gồm cả hiệu quả và hiệu năng của các nghiệp vụ, chương trình, dự án?
Nguồn: https://ketoananpha.vn/cac-loai-doi-tuong-kiem-toan.html
