Áp dụng IFRS: Trình bày tiền lương và phúc lợi cho người lao động trong BCTC sẽ thay đổi như nào?
Việc áp dụng IFRS có thể tạo ra không ít những khác biệt ngay trong phạm vi một
số nghiệp vụ kinh tế khá cơ bản liên quan đến tiền lương, phúc lợi trả cho người
lao động.
Theo Quyết định 345/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính, các Chuẩn mực Báo cáo Tài
chính Quốc tế (IFRS) sẽ được đưa vào áp dụng tự nguyện từ 2022 đến 2025 và áp
dụng bắt buộc đối với một số doanh nghiệp sau năm 2025.
Trong giai đoạn nghiên cứu, triển khai IFRS, vấn đề cấp thiết đặt ra đối với những người chịu trách nhiệm lập và cũng như những người sử dụng báo cáo tài chính (BCTC) là xác định những ảnh hưởng tiềm năng đối với BCTC khi áp dụng IFRS.
Trong hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp, tiền lương, tiền thưởng và các phúc lợi trả cho người lao động là một trong những nghiệp vụ kinh tế quan trọng, phát sinh thường xuyên và có ảnh hưởng không nhỏ tới BCTC.
Việc sử dụng lao động trong doanh nghiệp tại Việt Nam thường phát sinh tiền lương, tiền thưởng và các phúc lợi dưới các hình thức tiền lương, Thưởng và phúc lợi ngắn hạn, Các khoản đóng góp của người sử dụng lao động liên quan đến phúc lợi cho người lao động sau khi nghỉ hưu, Trợ cấp thôi việc, và Các khoản thanh toán dựa trên cổ phiếu.
Ông Trần Anh Quân, Partner tại KPMG Việt Nam, chia sẻ những khác biệt cơ bản giữa BCTC được lập theo các Chuẩn mực Kế toán và Chế độ Kế toán Việt Nam (VAS) hiện hành so với BCTC được lập theo IFRS và những điều doanh nghiệp cần lưu ý trong quá trình triển khai áp dụng IFRS dưới đây.
Về cơ bản kế toán tiền lương theo IFRS tương tự như VAS. Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp có vốn nhà nước mà tiền lương được xác định theo cơ chế quỹ lương thì các doanh nghiệp này cần xử lý một vài vấn đề sau khi áp dụng IFRS. Thứ nhất là việc tạm ứng và chi vượt quá quỹ lương thực hiện cho kỳ báo cáo dẫn đến phải hoàn trả từ quỹ tiền lương của năm liền kề tiếp theo. Nếu cơ chế tài chính không cho phép phần chi vượt được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của năm hiện hành thì sẽ tạo ra sự khác biệt về ghi nhận chi phí khi áp dụng IFRS. Theo IFRS, các khoản đã chi vượt quỹ lương thực hiện được xem là chi phí đã phát sinh liên quan đến công việc mà người lao động đã thực hiện và phải tính vào chi phí trong báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ phát sinh (dẫn đến giảm lợi nhuận báo cáo), ngoại trừ các khoản tiền lương có liên quan trực tiếp đến việc hình thành tài sản thì được tính vào giá trị tài sản.
Vấn đề thứ hai các doanh nghiệp có tiền lương được xác định theo cơ chế quỹ lương cần xử lý là việc lập quỹ dự phòng để bổ sung vào quỹ tiền lương của năm sau. IFRS không cho phép lập dự phòng cho các chi phí hoạt động trong tương lai. Do vậy, nếu doanh nghiệp đã ghi nhận khoản dự phòng này thì phải điều chỉnh hoàn nhập lại khi áp dụng IFRS (dẫn đến tăng lợi nhuận báo cáo).
Theo IFRS, khi người lao động đã làm việc cho doanh nghiệp trong kỳ kế toán, các khoản khen thưởng phúc lợi ngắn hạn cho người lao động có liên quan đến kỳ kế toán luôn được ghi nhận là chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sử dụng lao động kể cả trong trường hợp chi trả từ quỹ khen thưởng phúc lợi. Khoản khen thưởng phúc lợi ngắn hạn liên quan đến thời gian người lao động lao việc trong kỳ kế toán mà chưa thanh toán cho người lao động vào cuối kỳ được ghi nhận là khoản nợ phải trả của doanh nghiệp.
Khi áp dụng IFRS, doanh nghiệp có lập quỹ khen thưởng phúc lợi cần xử lý hai vấn đề như sau. Thứ nhất là xác định có phải do việc người lao động đã làm việc trong kỳ kế toán làm phát sinh nghĩa vụ hiện tại cho doanh nghiệp phải chi trả khoản khen thưởng, phúc lợi tương ứng với khoản trích quỹ hay không. Điều này phụ thuộc vào quy chế lập và sử dụng quỹ khen thưởng phúc lợi của doanh nghiệp. Khoản nợ phải trả của doanh nghiệp chỉ được ghi nhận khi nghĩa vụ nêu trên có tồn tại vào cuối kỳ kế toán. Nếu doanh nghiệp đã ghi nhận khoản nợ phải trả về quỹ khen thưởng và phúc lợi trong khi nghĩa vụ này chưa tồn tại thì sẽ cần điều chỉnh xóa bỏ khoản phải trả.
Thứ hai, doanh nghiệp cần điều chỉnh việc ghi nhận khoản khen thưởng phúc lợi mà người người lao động được hưởng liên quan đến công việc người lao động đã thực hiện trong kỳ kế toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ thay vì việc khấu trừ vào lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Điều này sẽ dẫn đến sự sụt giảm tương ứng về lợi nhuận được báo cáo của doanh nghiệp.
Để nắm rõ hơn quy tắc kế toán tiền lương và thưởng theo IFRS, doanh nghiệp cần tìm hiểu kĩ về chuẩn mực IAS 19 — Phúc lợi cho người lao động.
Qua những phân tích ở trên, có thể thấy rằng, việc chuyển đổi từ VAS sang IFRS có thể tạo ra không ít những khác biệt ngay trong phạm vi một số nghiệp vụ kinh tế khá cơ bản liên quan đến tiền lương, phúc lợi trả cho người lao động. Vì vậy, để chuyển đổi thành công sang IFRS, doanh nghiệp cần đánh giá kĩ những ảnh hưởng và lập kế hoạch chuyển đổi ngay từ bây giờ.
Phần tiếp theo của bài này sẽ đề cập tới các vấn đề trong việc chuyển đổi từ VAS sang IFRS liên quan đến các khoản đóng góp của người sử dụng lao động liên quan đến phúc lợi cho người lao động sau khi nghỉ hưu, trợ cấp thôi việc và các khoản thanh toán dựa trên cổ phiếu.
Còn theo IFRS, các chương trình phúc lợi sau khi nghỉ hưu được chia thành 2 loại. Thứ nhất là chương trình phúc lợi với nghĩa vụ đóng góp của người sử dụng lao động được xác định (người lao động không cam kết mức lợi ích cụ thể mà người lao động sẽ nhận được sau khi nghỉ hưu). Các khoản đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm y tế theo luật định thuộc về loại này. Việc áp dụng IFRS không tạo sự khác biệt trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp đối với loại chương trình phúc lợi này.
Loại thứ hai là chương trình phúc lợi với lợi ích cho người lao động sau khi nghỉ hưu được người sử dụng lao động cam kết. Khi áp dụng IFRS đối với loại hình này, việc nghi nhận nghĩa vụ của doanh nghiệp sử dụng lao động và khoản chi phí có liên quan cho từng kỳ được thực hiện theo mô hình tài chính sử dụng lý thuyết xác suất, thống kê kết hợp với chiết khấu dòng tiền. Doanh nghiệp thường phải sử dụng chuyên gia để thực hiện mô hình tài chính như vậy. Do VAS chưa có quy định cho loại hình này, khi áp dụng IFRS, doanh nghiệp có chương trình phúc lợi cho người lao động thuộc loại này cần đánh giá xem chính sách kế toán được doanh nghiệp áp dụng có khoảng cách như thế nào so với yêu cầu IFRS và có cần thuê chuyên gia để thực hiện mô hình tài chính nêu trên hay không.
Trong giai đoạn nghiên cứu, triển khai IFRS, vấn đề cấp thiết đặt ra đối với những người chịu trách nhiệm lập và cũng như những người sử dụng báo cáo tài chính (BCTC) là xác định những ảnh hưởng tiềm năng đối với BCTC khi áp dụng IFRS.
Trong hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp, tiền lương, tiền thưởng và các phúc lợi trả cho người lao động là một trong những nghiệp vụ kinh tế quan trọng, phát sinh thường xuyên và có ảnh hưởng không nhỏ tới BCTC.
Việc sử dụng lao động trong doanh nghiệp tại Việt Nam thường phát sinh tiền lương, tiền thưởng và các phúc lợi dưới các hình thức tiền lương, Thưởng và phúc lợi ngắn hạn, Các khoản đóng góp của người sử dụng lao động liên quan đến phúc lợi cho người lao động sau khi nghỉ hưu, Trợ cấp thôi việc, và Các khoản thanh toán dựa trên cổ phiếu.
Ông Trần Anh Quân, Partner tại KPMG Việt Nam, chia sẻ những khác biệt cơ bản giữa BCTC được lập theo các Chuẩn mực Kế toán và Chế độ Kế toán Việt Nam (VAS) hiện hành so với BCTC được lập theo IFRS và những điều doanh nghiệp cần lưu ý trong quá trình triển khai áp dụng IFRS dưới đây.
1. Tiền lương
Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Theo nguyên tắc chung, tiền lương được ghi nhận vào chi phí trong báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ phát sinh (ngoại trừ các khoản tiền lương có liên quan trực tiếp đến việc hình thành tài sản thì được ghi nhận vào giá trị tài sản, ví dụ tài sản cố định và hàng tồn kho). Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp có vốn nhà nước mà tiền lương được xác định theo cơ chế quỹ lương thì cơ chế này có những đặc điểm khác với cơ chế trả lương theo hợp đồng lao động. VAS không có quy định cụ thể cho cơ chế quỹ lương và việc kế toán thường được thực hiện dựa trên quy định của nhà nước liên quan đến việc lập và sử dụng quỹ lương.Về cơ bản kế toán tiền lương theo IFRS tương tự như VAS. Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp có vốn nhà nước mà tiền lương được xác định theo cơ chế quỹ lương thì các doanh nghiệp này cần xử lý một vài vấn đề sau khi áp dụng IFRS. Thứ nhất là việc tạm ứng và chi vượt quá quỹ lương thực hiện cho kỳ báo cáo dẫn đến phải hoàn trả từ quỹ tiền lương của năm liền kề tiếp theo. Nếu cơ chế tài chính không cho phép phần chi vượt được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của năm hiện hành thì sẽ tạo ra sự khác biệt về ghi nhận chi phí khi áp dụng IFRS. Theo IFRS, các khoản đã chi vượt quỹ lương thực hiện được xem là chi phí đã phát sinh liên quan đến công việc mà người lao động đã thực hiện và phải tính vào chi phí trong báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ phát sinh (dẫn đến giảm lợi nhuận báo cáo), ngoại trừ các khoản tiền lương có liên quan trực tiếp đến việc hình thành tài sản thì được tính vào giá trị tài sản.
Vấn đề thứ hai các doanh nghiệp có tiền lương được xác định theo cơ chế quỹ lương cần xử lý là việc lập quỹ dự phòng để bổ sung vào quỹ tiền lương của năm sau. IFRS không cho phép lập dự phòng cho các chi phí hoạt động trong tương lai. Do vậy, nếu doanh nghiệp đã ghi nhận khoản dự phòng này thì phải điều chỉnh hoàn nhập lại khi áp dụng IFRS (dẫn đến tăng lợi nhuận báo cáo).
2. Thưởng và phúc lợi ngắn hạn
Thưởng là số tiền hoặc tài sản hoặc bằng các hình thức khác mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc của người lao động. Một số doanh nghiệp có Quỹ khen thưởng phúc lợi được lập theo quy chế nội bộ của doanh nghiệp trích từ lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp và được sử dụng để thanh toán các khoản chi thưởng, phúc lợi cho người lao động. Tương tự như tiền lương, thưởng và phúc lợi được ghi nhận vào chi phí trong báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ phát sinh ngoại trừ các khoản tiền lương có liên quan trực tiếp đến việc hình thành tài sản thì được tính vào giá trị tài sản. VAS hướng dẫn việc ghi nhận quỹ khen thưởng phúc lợi được trích từ lợi nhận sau thuế thu nhập doanh nghiệp như một khoản nợ phải trả của doanh nghiệp. Chi trả cho người lao động từ quỹ khen thưởng phúc lợi được ghi giảm khoản nợ phải trả. Khoản trích vào quỹ khen thưởng phúc lợi do vậy không được phản ánh vào chí phí sản xuất kinh doanh.Theo IFRS, khi người lao động đã làm việc cho doanh nghiệp trong kỳ kế toán, các khoản khen thưởng phúc lợi ngắn hạn cho người lao động có liên quan đến kỳ kế toán luôn được ghi nhận là chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sử dụng lao động kể cả trong trường hợp chi trả từ quỹ khen thưởng phúc lợi. Khoản khen thưởng phúc lợi ngắn hạn liên quan đến thời gian người lao động lao việc trong kỳ kế toán mà chưa thanh toán cho người lao động vào cuối kỳ được ghi nhận là khoản nợ phải trả của doanh nghiệp.
Khi áp dụng IFRS, doanh nghiệp có lập quỹ khen thưởng phúc lợi cần xử lý hai vấn đề như sau. Thứ nhất là xác định có phải do việc người lao động đã làm việc trong kỳ kế toán làm phát sinh nghĩa vụ hiện tại cho doanh nghiệp phải chi trả khoản khen thưởng, phúc lợi tương ứng với khoản trích quỹ hay không. Điều này phụ thuộc vào quy chế lập và sử dụng quỹ khen thưởng phúc lợi của doanh nghiệp. Khoản nợ phải trả của doanh nghiệp chỉ được ghi nhận khi nghĩa vụ nêu trên có tồn tại vào cuối kỳ kế toán. Nếu doanh nghiệp đã ghi nhận khoản nợ phải trả về quỹ khen thưởng và phúc lợi trong khi nghĩa vụ này chưa tồn tại thì sẽ cần điều chỉnh xóa bỏ khoản phải trả.
Thứ hai, doanh nghiệp cần điều chỉnh việc ghi nhận khoản khen thưởng phúc lợi mà người người lao động được hưởng liên quan đến công việc người lao động đã thực hiện trong kỳ kế toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ thay vì việc khấu trừ vào lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Điều này sẽ dẫn đến sự sụt giảm tương ứng về lợi nhuận được báo cáo của doanh nghiệp.
Để nắm rõ hơn quy tắc kế toán tiền lương và thưởng theo IFRS, doanh nghiệp cần tìm hiểu kĩ về chuẩn mực IAS 19 — Phúc lợi cho người lao động.
Qua những phân tích ở trên, có thể thấy rằng, việc chuyển đổi từ VAS sang IFRS có thể tạo ra không ít những khác biệt ngay trong phạm vi một số nghiệp vụ kinh tế khá cơ bản liên quan đến tiền lương, phúc lợi trả cho người lao động. Vì vậy, để chuyển đổi thành công sang IFRS, doanh nghiệp cần đánh giá kĩ những ảnh hưởng và lập kế hoạch chuyển đổi ngay từ bây giờ.
Phần tiếp theo của bài này sẽ đề cập tới các vấn đề trong việc chuyển đổi từ VAS sang IFRS liên quan đến các khoản đóng góp của người sử dụng lao động liên quan đến phúc lợi cho người lao động sau khi nghỉ hưu, trợ cấp thôi việc và các khoản thanh toán dựa trên cổ phiếu.
3. Các khoản đóng góp của người sử dụng lao động liên quan đến phúc lợi cho người lao động sau khi nghỉ hưu
Tại Việt Nam, các khoản đóng góp của người sử dụng lao động liên quan đến phúc lợi sau khi nghỉ hưu chủ yếu bao gồm phần đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm y tế theo luật định hoặc, trong một số trường hợp hợp hiếm gặp, các khoản đóng góp bổ sung khác theo thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. Theo các Chuẩn mực Kế toán và Chế độ Kế toán Việt Nam (VAS), các khoản đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm y tế theo luật định được ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh khi nghĩa vụ đóng góp phát sinh. VAS không có quy định cụ thể đối với các khoản đóng góp quỹ phúc lợi sau khi nghỉ hưu khác do doanh nghiệp tự lập hoặc các khoản phúc lợi nghỉ hưu mà doanh nghiệp cam kết cung cấp cho người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động. Các khoản phúc lợi này hiện không phổ biến tại Việt Nam tuy vậy khá phổ biến trên thế giới.Còn theo IFRS, các chương trình phúc lợi sau khi nghỉ hưu được chia thành 2 loại. Thứ nhất là chương trình phúc lợi với nghĩa vụ đóng góp của người sử dụng lao động được xác định (người lao động không cam kết mức lợi ích cụ thể mà người lao động sẽ nhận được sau khi nghỉ hưu). Các khoản đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm y tế theo luật định thuộc về loại này. Việc áp dụng IFRS không tạo sự khác biệt trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp đối với loại chương trình phúc lợi này.
Loại thứ hai là chương trình phúc lợi với lợi ích cho người lao động sau khi nghỉ hưu được người sử dụng lao động cam kết. Khi áp dụng IFRS đối với loại hình này, việc nghi nhận nghĩa vụ của doanh nghiệp sử dụng lao động và khoản chi phí có liên quan cho từng kỳ được thực hiện theo mô hình tài chính sử dụng lý thuyết xác suất, thống kê kết hợp với chiết khấu dòng tiền. Doanh nghiệp thường phải sử dụng chuyên gia để thực hiện mô hình tài chính như vậy. Do VAS chưa có quy định cho loại hình này, khi áp dụng IFRS, doanh nghiệp có chương trình phúc lợi cho người lao động thuộc loại này cần đánh giá xem chính sách kế toán được doanh nghiệp áp dụng có khoảng cách như thế nào so với yêu cầu IFRS và có cần thuê chuyên gia để thực hiện mô hình tài chính nêu trên hay không.
4. Trợ cấp thôi việc
Trợ cấp thôi việc là khoản phúc lợi bắt buộc mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo quy định tại điều 46 Bộ Luật Lao động. VAS có đề cập đến việc lập dự phòng trợ cấp thôi việc nhưng không quy định cụ thể về xác định giá trị nghĩa vụ nợ của người sử dụng lao động và khoản chi phí liên quan. Điều này dẫn đến việc diễn giải và áp dụng không nhất quán trên thực tế trong việc lập báo cáo tài chính. Theo IFRS, khoản trợ cấp thôi việc như được quy định tại điều 46 Bộ Luật Lao động được xem là một khoản phúc lợi sau khi chấm dứt hợp đồng theo luật định mà người sử dụng lao động có nghĩa vụ phải thanh toán. Giá trị khoản nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp và chi phí liên quan cho từng kỳ được xác định theo mô hình tài chính sử dụng lý thuyết xác suất, thống kê, kết hợp với chiết khấu dòng tiền tương tự như đối với chương trình phúc lợi với lợi ích cho người lao động sau khi nghỉ hưu được người sử dụng lao động cam kết như đề cập ở trên.5. Các khoản thanh toán dựa trên cổ phiếu
Hiện nay tại Việt Nam đã có một số công ty cổ phần có chương trình phúc lợi cho người lao động dựa trên cổ phiếu nhằm khuyến khích người lao động hướng tới việc nâng cao giá trị cho cổ đông. Những chương trình này có thể có nhiều hình thức và các chế độ đa dạng nhưng có điểm chung là khoản thanh toán cho người lao động (lương, thưởng hoặc phúc lợi) là bằng cổ phiếu của chính doanh nghiệp, công cụ tài chính phái sinh liên quan hoặc khoản tiền có mối liên hệ với giá cổ phiếu. VAS hiện tại chưa có quy định cụ thể cho những giao dịch này. Do vậy trên thực tế báo cáo tài chính của doanh nghiệp có những chương trình này thường không phản ánh đầy đủ những ảnh hưởng kinh tế của giao dịch ví dụ khoản chi phí ẩn của doanh nghiệp do phát hành cổ phiếu cho người lao động với giá thấp hơn giá thị trường thường không được ghi nhận trên báo cáo tài chính do các doanh nghiệp thường hạch toán cổ phiếu thưởng phát hành cho người lao động theo giá danh nghĩa, và chỉ ghi nhận tại thời điểm phát hành. Khi áp dụng IFRS, doanh nghiệp phải ghi nhận (vào chi phí sản xuất kinh doanh) giá trị của công việc người lao động đã thực hiện trong kỳ cho phép họ nhận được lợi ích (cổ phiếu) liên quan. Đối với giao dịch được doanh nghiệp thanh toán cho người lao động thực tế bằng cổ phiếu (hoặc công cụ vốn chủ sở hữu khác), doanh nghiệp ghi nhận khoản tăng vốn chủ sở hữu tương ứng. Còn đối với giao dịch được doanh nghiệp thanh toán thực tế bằng tiền (căn cứ trên giá cổ phiếu), doanh nghiệp ghi nhận một khoản nợ phải trả tương ứng. Thông thường giá trị của công việc mà người lao động đã thực hiện cần được ghi nhận theo giá trị hợp lý của cổ phiếu (hoặc công cụ vốn chủ sở hữu khác) hoặc giá trị hợp lý của khoản nợ phải trả do thanh toán bằng tiền chứ không phải theo giá danh nghĩa của cổ phiếu phát hành cho người lao động. Điều này sẽ dẫn tới việc doanh nghiệp ghi nhận khoản chi phí lớn hơn khi áp dụng IFRS và làm giảm lợi nhuận báo cáo. Việc xác định giá trị hợp lý có thể là một công việc phức tạp và tốn kém nguồn lực trừ khi cổ phiếu (hoặc công cụ tài chính khác) được niêm yết trên một thị trường hoạt động để có thể sử dụng giá niêm yết mà không cần điều chỉnh. Ngoài ra, việc phân bổ giá trị giao dịch để ghi nhận vào chi phí cho mỗi kỳ kế toán cũng có thể bao hàm những ước tính kế toán có yếu tố không chắc chắn. Qua những nội dung đã phân tích, có thể thấy rằng trong phạm vi những nghiệp vụ kinh tế liên quan đến tiền lương, phúc lợi trả cho người lao động, việc áp dụng IFRS có thể tạo ra những khác biệt đáng kể trong kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp được thể hiện trên báo cáo tài chính. Bên cạnh các vấn đề mang tính chất kỹ thuật nhằm tuân thủ các quy định của IFRS, việc phản ánh đầy đủ và hợp lý hơn các chi phí liên quan đến tiền lương, phúc lợi trả cho người lao động có thể tạo ra những động lực làm thay đổi cơ chế lương, thưởng và phúc lợi cho người lao động. Lãnh đạo doanh nghiệp có thể quản lý những thay đổi này hữu hiệu hơn nếu đánh giá được những ảnh hưởng này trước khi triển khai áp dụng IFRS.Nguồn: https://kpmg.com/vn/vi/home/phan-tich-chuyen-sau/2021/08/tien-luong-va-phuc-loi-trong-bctc-2.html
Nguồn: https://kpmg.com/vn/vi/home/phan-tich-chuyen-sau/2021/08/tien-luong-va-phuc-loi-trong-bctc-1.html
Thông tin khác
Nếu bạn muốn tìm thêm thông tin liên quan đến bài đăng này hoặc thông tin công
ty chúng tôi, vui lòng xem các bài đăng và trang bên dưới. Công ty Kế toán AGS
Việt Nam hy vọng bạn có thể dành nhiều thời gian hơn trên trang web của chúng
tôi và có thêm nhiều thông tin hữu ích.
.jpg)
.png)