Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (CDS)

1. Công cụ phái sinh tín dụng

Công cụ phải sinh tín dụng (Credit derivatives): là các công cụ phái sinh trong đó tài sản cơ sở là thước đo chất lượng tín dụng của người đi vay.
Các loại công cụ phải sinh tín dụng:
  • Hợp đồng hoán đổi tổng lợi nhuận (Total return swaps)
  • Quyền chọn chênh lệch tín dụng (Credit spread options)
  • Quyền chọn liên kết rủi ro tín dụng (Credit-linked options)
  • Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (Credit default swaps – CDS)

2. Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (CDS)

CDS bảo vệ người cho vay khỏi tình trạng doanh nghiệp đi vay vỡ nợ và cũng bảo vệ nhà đầu tư khỏi những thay đổi về chất lượng tín dụng trước khi vỡ nợ xảy ra.
Giá trị của CDS tăng và giảm theo những thay đổi về khả năng xảy ra và mức độ nghiêm trọng của việc vỡ nợ, ngay cả khi vỡ nợ thực tế có thể không bao giờ xảy ra.

Các vị thế trong CDS:

Tài sản cơ sở của CDS là chất lượng tín dụng của người đi vay → Các bên sẽ đặt cược vào chất lượng tín dụng của người đi vay.
  • Vị thế mua (Long position): Đặt cược vào việc cải thiện chất lượng tín dụng → Bán CDS (bán bảo hiểm)
  • Vị thế bán (Short position): Đặt cược vào chất lượng tín dụng xấu đi → Mua CDS (mua bảo hiểm)

Cơ chế của CDS:

Cơ chế của CDS:


CDS được phát hành dựa trên mệnh giá được bảo hiểm được gọi là vốn danh nghĩa (notional principal).

  • Trong suốt thời hạn của hợp đồng: Người mua bảo hiểm trả phí bảo hiểm định kỳ (chênh lệch CDS) cho người bán bảo hiểm.
  • Nếu sự kiện tín dụng xảy ra: Người mua bảo hiểm tín dụng sẽ được người bán bảo hiểm tín dụng bồi thường.

Tiêu chuẩn hóa lãi suất coupon:

Lãi suất coupon CDS hiện đã được chuẩn hóa:
  • Công ty/chỉ số cấp đầu tư: 1%
  • Công ty/chỉ số lợi suất cao: 5%

Diễn giải: Nếu lãi suất CDS là 5%, người mua bảo vệ sẽ thanh toán hàng quý với lãi suất 5% hàng năm.
→ Không phải tất cả các công ty được xếp hạng đầu tư (investment grade) đều có rủi ro tín dụng tương đương, điều tương tự cũng xảy ra với các công ty có lợi suất cao (high-yield)
→ Lãi suất chuẩn hóa có thể không phải là lãi suất phù hợp để đền bù cho người bán.
→ Sự khác biệt lãi suất này được tính bằng khoản thanh toán trả trước (phần bù)

3. Các loại CDS

Bao gồm:
  • CDS đơn danh (Single-name CDS)
  • CDS danh mục (Index CDS)
  • CDS phân ngạch (Tranche CDS)

3.1. CDS đơn danh

CDS đơn danh (Single-name CDS) là CDS dành cho một người vay cụ thể (công ty tham chiếu) và nghĩa vụ tham chiếu trong hợp đồng thường là khoản nợ không có bảo đảm cao cấp (senior unsecured debt).

3.1. CDS đơn danh


Lợi nhuận của CDS dựa trên giá trị thị trường của trái phiếu có giá phân phối rẻ nhất (Cheapest to deliver - CTD) có cùng mức độ tín dụng (seniority) như nghĩa vụ tham chiếu.

Trái phiếu có giá phân phối rẻ nhất (Cheapest to deliver - CTD): có thể được mua và giao với chi phí thấp nhất nhưng có cùng mức độ ưu tiên với nghĩa vụ tham chiếu.

3.2. CDS danh mục

CDS danh mục (Index CDS) bao gồm một danh mục các CDS đơn danh:
  • Mức độ bảo vệ đối với mỗi tổ chức phát hành là như nhau (nghĩa là có trọng số như nhau).
  • Tổng số vốn danh nghĩa là tổng số tiền bảo vệ cho tất cả các tổ chức phát hành.
CDS danh mục cho phép những người tham gia thị trường chấp nhận rủi ro tín dụng của một số doanh nghiệp đi vay.
Tương quan tín dụng: Việc vỡ nợ của một số công ty nhất định có liên quan đến việc vỡ nợ của các công ty khác. → Các khoản vỡ nợ càng tương quan với nhau thì việc mua bảo vệ cho sự kết hợp của các công ty càng tốn kém.
Nguồn: Tổng hợp 

Thông tin khác

Next Post Previous Post