DN đóng bảo hiểm nhân thọ, hưu trí tính thuế TNCN không?
1.1. Khoản doanh nghiệp đóng bảo hiểm nhân thọ được xử lý như thế nào?
Theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP, khoản tiền do người sử dụng lao động đóng góp để tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện hoặc bảo hiểm nhân thọ cho người lao động được quy định trong nhóm thu nhập từ tiền lương, tiền công. Đáng chú ý, khoản này được đưa vào thu nhập chịu thuế của người lao động.
Như vậy, không nên hiểu rằng doanh nghiệp mua bảo hiểm cho nhân viên thì khoản tiền này đương nhiên được miễn thuế TNCN. Về nguyên tắc, nếu doanh nghiệp đứng ra mua và đóng phí bảo hiểm nhân thọ cho người lao động thì khoản tiền doanh nghiệp đóng có thể làm phát sinh thu nhập chịu thuế đối với người lao động.
Tuy nhiên, việc xác định số thuế phải nộp không dừng ở bước cộng toàn bộ khoản bảo hiểm vào tiền lương. Nghị định 253 đồng thời cho phép một số khoản đóng bảo hiểm được trừ khi xác định thu nhập tính thuế.
1.2. Mức giảm trừ tối đa đối với bảo hiểm nhân thọ, hưu trí.
Điểm đáng chú ý tại Điều 46 Nghị định 253/2026/NĐ-CP là khi xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công, cá nhân được trừ một số khoản đóng bảo hiểm, trong đó có khoản tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ. Tổng mức được trừ đối với các hình thức này tối đa là 3 triệu đồng/người/tháng. Mức 3 triệu đồng này được tính chung cho các hình thức bảo hiểm nêu trên, không phải 3 triệu đồng cho từng loại bảo hiểm.
Đặc biệt, khoản tiền do người sử dụng lao động đóng cho người lao động và khoản do chính người lao động tự đóng đều được tính trong giới hạn này. Có thể hiểu đơn giản: Khoản bảo hiểm được trừ tối đa = 3 triệu đồng/người/tháng, bao gồm cả phần doanh nghiệp đóng và phần người lao động tự đóng, nếu thuộc các khoản được Nghị định quy định. Do đó, doanh nghiệp khi tính thuế TNCN cần theo dõi tổng số tiền bảo hiểm thuộc diện được giảm trừ của từng người lao động thay vì chỉ căn cứ vào số tiền doanh nghiệp đã chi.
2. Cách xác định thu nhập tính thuế đối với khoản bảo hiểm.
2.1. Công thức cần lưu ý.
Đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập tính thuế được xác định bằng tổng thu nhập chịu thuế trừ đi các khoản giảm trừ theo quy định. Trong các khoản được trừ có bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và một số khoản bảo hiểm, quỹ hưu trí được pháp luật cho phép. Riêng bảo hiểm hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ có giới hạn tổng cộng không quá 3 triệu đồng/tháng.
Ví dụ, một người lao động có tiền lương chịu thuế 40 triệu đồng/tháng. Công ty đóng cho người này 5 triệu đồng/tháng tiền bảo hiểm nhân thọ thuộc diện được quy định. Về nguyên tắc, khoản doanh nghiệp đóng là một khoản lợi ích liên quan đến tiền lương, tiền công. Tuy nhiên, khi xác định thu nhập tính thuế, khoản bảo hiểm thuộc diện được trừ chỉ được tính trong giới hạn 3 triệu đồng/tháng.
2.2. Nếu người lao động tự đóng thêm bảo hiểm thì sao?
Đây là tình huống rất dễ nhầm. Giả sử công ty đóng bảo hiểm nhân thọ cho nhân viên 2 triệu đồng/tháng. Người lao động đồng thời tự đóng bảo hiểm hưu trí tự nguyện 2 triệu đồng/tháng. Tổng hai khoản là 4 triệu đồng/tháng. Trong khi đó, mức được trừ đối với nhóm bảo hiểm này tối đa là 3 triệu đồng/tháng. Do đó, không thể lấy 2 triệu đồng doanh nghiệp đóng cộng 2 triệu đồng người lao động tự đóng để giảm trừ toàn bộ 4 triệu đồng. Phần được trừ tối đa theo quy định là 3 triệu đồng/tháng. Điểm này đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp có chính sách phúc lợi bảo hiểm kết hợp với chương trình hưu trí tự nguyện cho nhân viên.
3. Những khoản bảo hiểm nào cần phân biệt?
3.1. Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp thuộc nhóm khoản đóng được trừ khi xác định thu nhập tính thuế theo quy định. Các khoản bảo hiểm bắt buộc này không nên gộp chung với giới hạn 3 triệu đồng của bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm hưu trí nêu trên. Nói cách khác, giới hạn 3 triệu đồng/tháng áp dụng đối với nhóm bảo hiểm hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ; không phải giới hạn chung cho toàn bộ các khoản bảo hiểm mà người lao động phải đóng.
3.2. Bảo hiểm hưu trí bổ sung và bảo hiểm hưu trí tự nguyện.
Nghị định 253/2026/NĐ-CP cho phép khoản đóng tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung và khoản mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện được xem xét giảm trừ khi xác định thu nhập tính thuế. Một điểm đáng chú ý khác là Nghị định quy định thu nhập do quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung và quỹ hưu trí tự nguyện chi trả được miễn thuế TNCN, không phân biệt khoản chi trả được thực hiện định kỳ, một lần, trước hay sau tuổi nghỉ hưu. Điều này tạo ra sự phân biệt giữa giai đoạn đóng bảo hiểm và giai đoạn nhận quyền lợi. Khi đóng, người nộp thuế phải xem xét quy định về giảm trừ và giới hạn 3 triệu đồng/tháng; khi nhận thu nhập từ quỹ hưu trí thuộc trường hợp quy định thì khoản thu nhập này được miễn thuế.
3.3. Bảo hiểm nhân thọ
Đối với bảo hiểm nhân thọ, cần phân biệt giữa:
- Khoản phí bảo hiểm do doanh nghiệp đóng cho người lao động;
- Khoản phí do người lao động tự đóng;
- Khoản được giảm trừ khi xác định thu nhập tính thuế;
- Khoản tiền lãi hoặc quyền lợi bảo hiểm mà cá nhân nhận được sau này.
Nghị định 253 quy định miễn thuế đối với khoản lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ mà cá nhân nhận được theo hợp đồng mua bảo hiểm nhân thọ của doanh nghiệp bảo hiểm. Vì vậy, không nên đánh đồng phí bảo hiểm doanh nghiệp đóng cho người lao động với lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ mà cá nhân nhận được. Đây là hai khoản có bản chất và thời điểm tính thuế khác nhau.
4. Một trường hợp rất dễ nhầm: bảo hiểm không bắt buộc không có tích lũy.
4.1. Khi nào khoản bảo hiểm không tính vào thu nhập chịu thuế?
Nghị định 253 còn quy định một trường hợp khác có lợi cho người lao động: khoản tiền do người sử dụng lao động mua cho người lao động sản phẩm bảo hiểm không bắt buộc và không có tích lũy về phí bảo hiểm có thể không tính vào thu nhập chịu thuế. Nhóm này bao gồm một số sản phẩm bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tử kỳ không có hoàn phí, trong đó người tham gia không nhận được tiền phí tích lũy từ việc tham gia bảo hiểm ngoài khoản tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo hợp đồng. Do đó, doanh nghiệp không nên chỉ nhìn vào tên gọi “bảo hiểm” để xác định thuế. Cần kiểm tra bản chất sản phẩm và điều khoản hợp đồng.
4.2. Ví dụ thực tế.
Công ty A mua bảo hiểm sức khỏe cho toàn bộ nhân viên. Người lao động không được nhận lại phần phí đã đóng dưới dạng khoản tích lũy khi kết thúc hợp đồng. Nếu sản phẩm đáp ứng đầy đủ điều kiện của quy định nêu trên, khoản bảo hiểm này không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động. Ngược lại, nếu doanh nghiệp mua một sản phẩm bảo hiểm có yếu tố tích lũy hoặc thuộc nhóm bảo hiểm nhân thọ được quy định là lợi ích chịu thuế thì cần xử lý theo quy định tương ứng.
5. Cục Thuế đã giải đáp gì về các khoản bảo hiểm trong năm 2026?
5.1. Quan điểm được Cục Thuế công bố.
Trong các nội dung tuyên truyền, hướng dẫn chính sách thuế năm 2026, cơ quan thuế đã nhấn mạnh việc khoản đóng bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ được xem xét giảm trừ khi xác định thu nhập tính thuế theo quy định mới. Cục Thuế cũng giới thiệu chính sách thuế TNCN mới và những thay đổi liên quan đến thu nhập từ tiền lương, tiền công. Một nội dung Cục Thuế đăng tải cũng đề cập trường hợp cá nhân người nước ngoài và người Việt Nam tham gia các khoản bảo hiểm tại nước ngoài; trong những điều kiện nhất định, các khoản bảo hiểm bắt buộc theo quy định của quốc gia nơi đóng có thể được xem xét giảm trừ khi xác định thu nhập chịu thuế tại Việt Nam.
5.2. Câu hỏi thực tế: khoản bảo hiểm đóng ở nước ngoài có được trừ không?
Đây là vấn đề đặc biệt đáng quan tâm đối với lao động làm việc xuyên biên giới. Theo Nghị định 253, cá nhân cư trú tại Việt Nam có thu nhập từ tiền lương, tiền công ở nước ngoài và đã tham gia các khoản bảo hiểm bắt buộc theo quy định của quốc gia nơi làm việc thì có thể được trừ các khoản phí bảo hiểm đó khi xác định thu nhập tính thuế tại Việt Nam. Như vậy, doanh nghiệp có lao động nước ngoài hoặc người Việt Nam được điều chuyển làm việc giữa Việt Nam và nước ngoài cần lưu ý đến chứng từ bảo hiểm. Nghị định yêu cầu căn cứ xác định khoản được trừ phải có chứng từ phù hợp do tổ chức bảo hiểm, quỹ hưu trí hoặc doanh nghiệp bảo hiểm cấp; trường hợp tổ chức trả thu nhập nộp thay thì cần có xác nhận của tổ chức trả thu nhập.
6. Doanh nghiệp cần làm gì khi tính thuế TNCN?
6.1. Rà soát từng loại sản phẩm bảo hiểm.
Doanh nghiệp nên lập danh sách riêng cho từng khoản phúc lợi bảo hiểm, xác định:
- Tên sản phẩm bảo hiểm;
- Loại bảo hiểm;
- Người tham gia và người thụ hưởng;
- Người trực tiếp đóng phí;
- Mức phí hàng tháng;
- Có hay không có yếu tố tích lũy;
- Khoản phí có thuộc diện tính vào thu nhập chịu thuế hay không;
- Khoản được giảm trừ có nằm trong giới hạn 3 triệu đồng/tháng hay không.
Đặc biệt, doanh nghiệp cần lưu hồ sơ hợp đồng và chứng từ thanh toán để có cơ sở giải trình khi cơ quan thuế kiểm tra.
6.2. Không áp dụng máy móc mức 3 triệu đồng.
Mức 3 triệu đồng/tháng là mức tối đa được trừ đối với nhóm bảo hiểm hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ theo Điều 46 Nghị định 253. Điều này không có nghĩa doanh nghiệp có thể mặc nhiên loại 3 triệu đồng khỏi thu nhập chịu thuế của mọi nhân viên. Trước hết phải xác định khoản tiền thực tế có thuộc nhóm được giảm trừ hay không; sau đó mới áp dụng giới hạn. Ví dụ, nếu tổng khoản thuộc diện giảm trừ chỉ là 1,5 triệu đồng/tháng thì chỉ được trừ 1,5 triệu đồng. Nếu tổng khoản là 5 triệu đồng/tháng thì mức tối đa được trừ theo quy định này vẫn là 3 triệu đồng.
7. Kết luận.
Từ ngày 01/7/2026, câu hỏi “doanh nghiệp mua bảo hiểm cho người lao động có phải tính thuế TNCN không?” không thể trả lời đơn giản là có hoặc không. Cần xác định chính xác loại bảo hiểm và cách thức doanh nghiệp chi trả.
Đối với bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hưu trí bổ sung và bảo hiểm hưu trí tự nguyện, khoản doanh nghiệp đóng cho người lao động thuộc nhóm thu nhập cần xem xét khi xác định thu nhập chịu thuế; đồng thời pháp luật cho phép giảm trừ khi xác định thu nhập tính thuế trong giới hạn tổng cộng 3 triệu đồng/người/tháng, bao gồm cả phần doanh nghiệp đóng và phần người lao động tự đóng.
Trong khi đó, một số sản phẩm bảo hiểm không bắt buộc và không có tích lũy về phí bảo hiểm có thể không tính vào thu nhập chịu thuế nếu đáp ứng đúng điều kiện. Khoản lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và khoản thu nhập do quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung, quỹ hưu trí tự nguyện chi trả cũng thuộc các trường hợp được miễn thuế theo Nghị định.
Vì vậy, đối với doanh nghiệp, việc xây dựng chính sách phúc lợi bảo hiểm trong năm 2026 cần đi kèm với quy trình kiểm tra hồ sơ và phân loại thuế. Không nên chỉ căn cứ vào tên gọi của chương trình phúc lợi mà cần xem xét bản chất sản phẩm, mức đóng, người đóng và quyền lợi mà người lao động nhận được. Đây là cơ sở để doanh nghiệp khấu trừ thuế TNCN đúng quy định, đồng thời bảo đảm người lao động được hưởng đầy đủ các khoản giảm trừ mà pháp luật cho phép.
Nguồn: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thue-Phi-Le-Phi/Nghi-dinh-253-2026-ND-CP-huong-dan-Luat-Thue-thu-nhap-ca-nhan-699193.aspx
