Thuế GTGT hàng biếu tặng: Vì sao lại phát sinh thuế GTGT?
Trong thực tế kế toán doanh nghiệp, hàng hóa dùng để biếu, tặng cho nhân viên, khách hàng hoặc đối tác thường tạo ra một câu hỏi: doanh nghiệp không bán hàng, không thu tiền của người nhận và cũng không phát sinh doanh thu bán hàng, vậy tại sao vẫn phải lập hóa đơn và tính thuế GTGT đầu ra? Vì vậy, hãy cùng tìm hiểu rõ hơn bản chất thuế GTGT (giả định theo phương pháp khấu trừ) và nghiệp vụ biếu tặng trong bài viết sau đây.
Hàng biếu tặng có phải lập hóa đơn không?
Câu trả lời theo quy định hóa đơn hiện hành năm 2026 là có phải lập hóa đơn.
Từ ngày 01/07/2026, Nghị định 254/2026/NĐ-CP quy định nguyên tắc khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, người bán phải lập hóa đơn điện tử để giao cho người mua. Quy định này đồng thời liệt kê rõ các trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ.
Hóa đơn ở đây trước hết là chứng từ phản ánh nghiệp vụ kinh tế và là cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý thuế.
Nghị định 254/2026/NĐ-CP yêu cầu hóa đơn điện tử phải phản ánh đầy đủ, trung thực nghiệp vụ kinh tế phát sinh; nội dung hóa đơn bao gồm tên hàng hóa, số lượng, đơn giá, thành tiền chưa có thuế GTGT, thuế suất, tiền thuế GTGT và tổng tiền thanh toán.
Do đó, việc phải lập hóa đơn cho hàng biếu tặng không nên được hiểu rằng doanh nghiệp đã bán hàng cho người nhận và phát sinh một khoản phải thu tương ứng. Hóa đơn đang thực hiện chức năng ghi nhận và kiểm soát nghiệp vụ hàng hóa được chuyển giao, đồng thời phản ánh nghĩa vụ thuế theo quy định.
Thuế GTGT thực sự đánh vào cái gì?
Muốn hiểu tại sao hàng biếu tặng phải tính thuế GTGT, trước hết cần hiểu thuế GTGT không đơn giản chỉ là thuế đánh vào doanh thu bán hàng.
Điều 2 Luật Thuế GTGT có quy định thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Đồng thời, Điều 3 cũng xác định hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT, trừ các trường hợp được quy định là không chịu thuế.
Do đó, nếu chỉ nhìn vào doanh thu, chúng ta có thể lập luận rằng doanh nghiệp tặng một chiếc điện thoại cho khách hàng thì không có doanh thu vì khách hàng không trả tiền. Nhưng nếu nhìn theo góc nhìn của thuế GTGT, chiếc điện thoại đó cuối cùng vẫn được đưa ra khỏi doanh nghiệp và được chuyển sang cho một chủ thể khác sử dụng, tức hàng hóa đã đi đến khâu tiêu dùng.
Việc không thu tiền chỉ làm thay đổi bản chất của giao dịch về mặt thương mại, chứ không tự động biến hàng hóa từ đối tượng chịu thuế thành đối tượng không chịu thuế.
Nói cách khác, “không có doanh thu” và “không phát sinh thuế GTGT” là hai vấn đề khác nhau.
Trong giao dịch bán hàng thông thường, giá bán là căn cứ để xác định giá tính thuế. Người mua trả tiền cho hàng hóa, doanh nghiệp ghi nhận doanh thu và thuế GTGT được tính trên giá bán chưa có thuế. Nhưng với một số giao dịch đặc biệt như trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng, nếu pháp luật không đặt ra một quy tắc riêng thì doanh nghiệp có thể dễ dàng loại bỏ nghĩa vụ thuế bằng cách đưa hàng hóa ra khỏi hoạt động kinh doanh dưới hình thức cho tặng.
Chính vì vậy, pháp luật thuế GTGT không thiết kế nguyên tắc theo hướng có thu tiền mới có thuế.
Hàng biếu tặng có phải là doanh thu của doanh nghiệp không?
Đây là điểm cần phân biệt rất rõ giữa kế toán và thuế.
Một doanh nghiệp mua 100 hộp bánh tổng trị giá 30 triệu đồng rồi tặng cho khách hàng vào dịp cuối năm. Doanh nghiệp không thu tiền của khách hàng. Về bản chất, nghiệp vụ này không phải là một giao dịch bán hàng theo nghĩa thông thường. Do đó, không thể đơn giản coi 30 triệu đồng giá trị hàng tặng là doanh thu bán hàng của doanh nghiệp.
Nhưng điều đó không có nghĩa là doanh nghiệp được bỏ qua thuế GTGT đầu ra.
Pháp luật thuế GTGT có thể quy định một “giá tính thuế” cho một giao dịch ngay cả khi giá đó không phải là khoản tiền thực tế doanh nghiệp thu được. Đây chính là trường hợp của hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng, cho.
Theo điểm c khoản 1 Điều 7 Luật Thuế GTGT, giá tính thuế đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng, cho là giá tính thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh hoạt động. Quy định này hiện vẫn được phản ánh trong Văn bản hợp nhất 114/VBHN-VPQH năm 2026.
Như vậy, có thể tách vấn đề thành hai câu hỏi:
Câu hỏi thứ nhất là doanh nghiệp có ghi nhận doanh thu bán hàng hay không. Với một giao dịch biếu tặng thông thường, câu trả lời về nguyên tắc là không.
Câu hỏi thứ hai là giao dịch có tạo ra nghĩa vụ thuế GTGT hay không. Với hàng hóa, dịch vụ biếu tặng thuộc đối tượng chịu thuế, câu trả lời là có và giá tính thuế được xác định theo quy định riêng.
Đây chính là lý do một nghiệp vụ có thể không phát sinh doanh thu nhưng vẫn phát sinh thuế GTGT đầu ra.
Vì sao pháp luật phải tính thuế GTGT đối với hàng biếu tặng?
Nếu nhìn dưới góc độ quản lý thuế, quy định này có một logic khá rõ.
Giả sử pháp luật quy định rằng chỉ cần doanh nghiệp không thu tiền thì không phải tính thuế GTGT. Khi đó, cùng một loại hàng hóa có thể được xử lý rất khác nhau chỉ bằng cách thay đổi hình thức chuyển giao.
Ví dụ, Công ty A bán một chiếc máy tính với giá 20 triệu đồng thì phát sinh thuế GTGT đầu ra. Nhưng nếu Công ty A tuyên bố “tặng” chiếc máy tính đó cho một khách hàng thì hoàn toàn không có thuế GTGT. Sau đó, doanh nghiệp có thể sử dụng hình thức biếu tặng để chuyển giao hàng hóa thay cho bán hàng trong nhiều trường hợp khác nhau.
Khi đó, thuế GTGT sẽ có nguy cơ bị né tránh chỉ bằng cách biến một giao dịch có trả tiền thành một giao dịch không thu tiền trên giấy tờ.
Quy định về hàng biếu tặng giúp ngăn chặn vấn đề này bằng cách tạo ra một cơ chế xác định giá tính thuế độc lập với số tiền thực tế thu được. Giá tính thuế được lấy theo giá của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm biếu tặng.
Vì vậy, không nên hiểu rằng cơ quan thuế đang xem biếu tặng vẫn là bán hàng. Chính xác hơn, pháp luật đang xây dựng một quy tắc thuế riêng cho giao dịch không thu tiền để bảo đảm hàng hóa chịu thuế khi được đưa vào tiêu dùng không thể đơn giản thoát khỏi phạm vi điều tiết của thuế GTGT chỉ vì không phát sinh việc thanh toán.
Giá tính thuế GTGT của hàng biếu tặng được xác định thế nào?
Theo Điều 7 Luật Thuế GTGT và Điều 6 Nghị định 181/2025/NĐ-CP, đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để biếu, tặng, cho, giá tính thuế GTGT là giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh hoạt động biếu, tặng, cho. Quy định này tiếp tục được phản ánh trong văn bản hợp nhất các nghị định hướng dẫn năm 2026.
Giả sử doanh nghiệp mua một sản phẩm với giá 8 triệu đồng nhưng tại thời điểm tặng, giá của sản phẩm cùng loại trên thị trường là 10 triệu đồng. Lúc này, không thể mặc nhiên lấy 8 triệu đồng làm giá tính thuế GTGT đầu ra chỉ vì đó là giá mua của doanh nghiệp.
Căn cứ pháp lý là giá tính thuế của hàng hóa cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm biếu tặng.
Ngược lại, giá tính thuế cũng không nhất thiết bằng giá bán lẻ cao nhất trên thị trường. Vấn đề là doanh nghiệp cần có cơ sở phù hợp để xác định giá của hàng hóa cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.
Đây là một điểm cho thấy rõ bản chất của quy định. Thuế GTGT đầu ra trong trường hợp này không được xây dựng dựa trên khoản tiền mà doanh nghiệp đã thu, vì thực tế doanh nghiệp không thu tiền. Nó được xác định dựa trên một mức giá pháp luật quy định làm căn cứ tính thuế.
Ví dụ: Biếu tặng bánh cho khách hàng không thu tiền
Công ty TNHH AAA áp dụng phương pháp thuế GTGT khấu trừ, mua 10 hộp bánh tổng giá chưa thuế là 1.000.000đ (thuế suất GTGT 8%, tiền thuế 80.000đ) để biếu tặng khách hàng. Giả sử tại thời điểm biếu tặng, hàng hóa tương đương trên thị trường có giá 2.000.000đ (thuế suất GTGT 8%, tiền thuế 160.000đ).
Về góc độ hạch toán kế toán, định khoản:
Nếu có nhập kho:
Khi mua về:
| Nợ TK 156(*) | 1.000.000 |
| Nợ TK 1331 | 80.000 |
| Có TK 331 | 1.080.000 |
Khi xuất tặng:
| Nợ TK 642(*) | 1.000.000 |
| Có TK 156 | 1.000.000 |
Ghi nhận chi phí thuế GTGT
| Nợ TK 642 | 160.000 |
| Có TK 3331 | 160.000 |
Nếu không nhập kho:
| Nợ TK 642(*) | 1.000.000 |
| Nợ TK 1331 | 80.000 |
| Có TK 331 | 1.080.000 |
Ghi nhận chi phí thuế GTGT
| Nợ TK 642 | 160.000 |
| Có Tk 3331 | 160.000 |
Cần lưu ý, khi xuất hóa đơn GTGT đầu ra, dù phải xuất với giá 2.000.000đ và thuế GTGT 160.000đ, nhưng kế toán không ghi nhận khoản 2.000.000đ đó vào bất kỳ tài khoản kế toán nào nếu đã xác định là không thu tiền hay bất kỳ lợi ích nào mà chỉ hạch toán đúng số tiền thuế GTGT đầu ra là 160.000đ.
(*): Tùy theo trường hợp thực tế để chọn tài khoản hàng tồn kho hoặc tài khoản chi phí phù hợp
Giá mua vào có thể được xem là căn cứ xác định giá tính thuế hay không?
Trong thực tế, một câu hỏi thường được đặt ra là: nếu doanh nghiệp vừa mua một lô hàng trên thị trường rồi gần như ngay lập tức đem biếu tặng, liệu giá mua ghi trên hóa đơn đầu vào có thể được sử dụng làm căn cứ xác định giá tính thuế GTGT đầu ra hay không?
Câu trả lời là có thể, nếu giá mua đó phản ánh một giao dịch mua bán thông thường của chính hàng hóa được đem biếu tặng và thời điểm mua gần với thời điểm biếu tặng. Lý do là pháp luật yêu cầu xác định giá tính thuế dựa trên giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh hoạt động biếu, tặng. Trong khi đó, một hóa đơn mua hàng được lập ngay trước thời điểm biếu tặng chính là bằng chứng về một giao dịch thực tế của hàng hóa đó trên thị trường.
Chẳng hạn, doanh nghiệp mua bánh từ một nhà cung cấp với giá 1.000.000 đồng chưa có thuế GTGT, thuế GTGT 8% là 80.000 đồng, sau đó ngay trong ngày hoặc ngay sau đó sử dụng chính số bánh này để biếu tặng khách hàng.
Nếu giao dịch mua hàng là giao dịch bình thường, không có mức chiết khấu bất thường, không phải hàng thanh lý hoặc một giao dịch có điều kiện đặc biệt, thì mức giá 1.000.000 đồng có thể là một căn cứ rất phù hợp để chứng minh giá của hàng hóa cùng loại tại thời điểm biếu tặng. Khi đó, doanh nghiệp có cơ sở sử dụng 1.000.000 đồng, tức giá chưa có thuế GTGT, làm giá tính thuế để xác định thuế GTGT đầu ra.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa việc “giá mua vào là một căn cứ chứng minh giá thị trường” và việc “giá mua vào đương nhiên chính là giá thị trường”. Pháp luật không quy định máy móc rằng cứ lấy giá mua của doanh nghiệp làm giá tính thuế đối với hàng biếu tặng. Nếu giá mua là một mức giá đặc biệt do doanh nghiệp được hưởng chiết khấu số lượng lớn, mua hàng thanh lý, mua hàng xả kho hoặc giao dịch có những điều kiện không phổ biến trên thị trường, thì giá đó có thể không phản ánh đúng mức giá thông thường của hàng hóa cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm biếu tặng.
Ví dụ: Doanh nghiệp mua 1.000 hộp bánh và được nhà cung cấp giảm giá 30% nên giá thực tế chỉ còn 700.000 đồng một hộp, trong khi giá bán thông thường của sản phẩm này trên thị trường là khoảng 1.000.000 đồng.
Trong trường hợp đó, không nên mặc nhiên kết luận rằng 700.000 đồng chính là giá tính thuế chỉ vì đây là giá trên hóa đơn đầu vào. Ngược lại, nếu doanh nghiệp mua hàng với số lượng thông thường, theo mức giá phổ biến và sau đó biếu tặng ngay thì hóa đơn mua vào sẽ trở thành một căn cứ rất có giá trị để xác định giá tính thuế.
Điểm mấu chốt là giá mua vào có thể là bằng chứng về giá thị trường, nhưng mức độ thuyết phục của bằng chứng phụ thuộc vào hoàn cảnh của giao dịch. Kế toán không nhất thiết phải hiểu “giá thị trường” theo nghĩa lúc nào cũng phải đi khảo sát hoặc thu thập hàng loạt bảng báo giá bên ngoài.
Trong một trường hợp đơn giản, khi doanh nghiệp vừa mua chính hàng hóa đó từ một nhà cung cấp độc lập rồi đem biếu tặng ngay, hóa đơn đầu vào đã cung cấp một cơ sở thực tế khá rõ để chứng minh mức giá của hàng hóa tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.
Những sai lầm thường gặp khi xử lý hàng biếu tặng
Sai lầm phổ biến nhất là suy luận “không thu tiền thì không có VAT”. Đây là cách suy luận dựa trên giao dịch bán hàng thông thường nhưng không phù hợp với trường hợp biếu, tặng được Luật Thuế GTGT quy định riêng.
Sai lầm thứ hai là lấy giá mua vào làm giá tính thuế một cách máy móc. Pháp luật quy định đối với hàng biếu, tặng, cho, giá tính thuế là giá của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh hoạt động. Giá mua vào có thể trùng với mức này trong thực tế, nhưng không phải là nguyên tắc pháp lý mặc định.
Sai lầm thứ ba là đồng nhất mọi hình thức tặng quà cho khách hàng với khuyến mại. Hàng khuyến mại thực hiện đúng quy định pháp luật thương mại có cơ chế giá tính thuế riêng, trong khi hàng biếu, tặng thông thường áp dụng quy tắc giá tính thuế theo hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương.
Sai lầm thứ tư là nghĩ rằng đã xuất hóa đơn thì bắt buộc phải ghi nhận doanh thu bán hàng. Hóa đơn là chứng từ phản ánh nghiệp vụ và nghĩa vụ thuế; việc ghi nhận doanh thu phải căn cứ bản chất giao dịch và chuẩn mực, chế độ kế toán áp dụng, không thể suy ngược rằng cứ có hóa đơn là có doanh thu bán hàng.
Kết luận
Điểm cốt lõi nhất khi xử lý thuế GTGT hàng biếu tặng cho nhân viên, khách hàng, đối tác là phải tách ba khái niệm: doanh thu, giá tính thuế và hóa đơn.
Doanh nghiệp tặng hàng hóa không thu tiền thì về bản chất không phải là một giao dịch bán hàng thông thường và không vì thế mà phát sinh doanh thu bán hàng theo giá trị ghi trên hóa đơn. Nhưng hàng hóa vẫn được chuyển giao để người khác sử dụng, trong khi Luật Thuế GTGT xác định hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam thuộc phạm vi chịu thuế, trừ các trường hợp không chịu thuế.
Đối với hàng hóa, dịch vụ biếu, tặng, pháp luật đã thiết lập riêng giá tính thuế dựa trên giá của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh.
Vì vậy, thuế GTGT đầu ra của hàng biếu tặng không phát sinh vì doanh nghiệp đã thu được tiền, mà phát sinh vì pháp luật xác định đây là một trường hợp phải tính thuế và quy định một giá tính thuế thay thế cho giá bán thực tế.
Căn cứ pháp lý
Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 ngày 26/11/2024, có hiệu lực từ ngày 01/07/2025 và được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 90/2025/QH15, Luật số 149/2025/QH15 và Luật số 09/2026/QH16.
Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/07/2025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT; Nghị định số 359/2025/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 181 và Nghị định số 144/2026/NĐ-CP tiếp tục sửa đổi, bổ sung Nghị định 181.
Nghị định số 254/2026/NĐ-CP ngày 30/06/2026 quy định về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.
Nghị định số 174/2025/NĐ-CP quy định chính sách giảm thuế GTGT theo Nghị quyết số 204/2025/QH15, áp dụng trong thời gian từ ngày 01/07/2025 đến hết ngày 31/12/2026 đối với các nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi chính sách.
Nguồn: Tổng hợp
