Tài sản sinh học theo Thông tư 99: Bước tiến kế toán 2026

Năm 2026 đánh dấu cột mốc quan trọng trong quá trình hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của hệ thống kế toán Việt Nam khi Thông tư 99/2025/TT-BTC chính thức có hiệu lực, thay thế toàn diện Thông tư 200/2014/TT-BTC. Trong số những cải cách mang tính nền tảng của chế độ kế toán mới, việc lần đầu tiên chính thức đưa khái niệm Tài sản sinh học cùng hệ thống Tài khoản 215 vào áp dụng đã giải quyết dứt điểm những vướng mắc pháp lý kéo dài nhiều năm tại các doanh nghiệp nông, lâm và thủy sản.

Trong bối cảnh nền nông nghiệp Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình công nghệ cao, tích tụ ruộng đất và thu hút nguồn vốn đầu tư quy mô lớn, việc áp dụng khung kế toán chuẩn mực cho cây trồng, vật nuôi không còn là yêu cầu kỹ thuật thuần túy mà đã trở thành bài toán quản trị chiến lược. Sự ra đời của Tài khoản 215 giúp doanh nghiệp trong lĩnh vực nông, lâm và thủy sản theo dõi các loại tài sản , minh bạch hóa giá thành sản xuất và tiệm cận trực tiếp với Chuẩn mực Kế toán Quốc tế IAS 41 (Agriculture). Bài viết này sẽ phân tích toàn diện bản chất, cách ghi nhận và hạch toán tài sản sinh học và các tài khoản mới khác theo góc nhìn đến từ kế toán viên của AGS.


Tài sản sinh học

1. Tài khoản 215 - Tài sản sinh học là gì và tại sao lại được thêm vào hệ thống tài khoản kế toán?

Theo quy định pháp lý tại Thông tư 99/2025/TT-BTC, Tài sản sinh học được định nghĩa là các loại động vật sống hoặc cây trồng do doanh nghiệp nắm giữ, quản lý nhằm thực hiện quá trình biến đổi sinh học để tạo ra các sản phẩm nông nghiệp hoặc tạo ra các tài sản sinh học bổ sung khác. Trên cơ sở định nghĩa này, Tài khoản 215 - Tài sản sinh học ra đời với vai trò là tài khoản tổng hợp dùng để phản ánh toàn bộ giá trị hiện có cũng như tình hình biến động tăng, giảm của các đối tượng cây trồng, vật nuôi trong suốt chu kỳ tồn tại của chúng tại doanh nghiệp.

Việc Bộ Tài chính chính thức bổ sung Tài khoản 215 vào Bảng hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp xuất phát từ những lý do kỹ thuật và quản trị tài chính đặc thù mà các tài khoản truyền thống không thể đáp ứng. Khác với nhà xưởng, máy móc thiết bị là những tài sản cố định chịu sự hao mòn hữu hình và vô hình theo thời gian, hoặc hàng tồn kho là những vật tư có giá trị cố định sau khi nhập kho, tài sản sinh học lại sở hữu đặc tính tự biến đổi sinh học. 

Ví dụ: Một con bê con sau quá trình nuôi dưỡng sẽ phát triển thành bò sữa trưởng thành có giá trị cao hơn, hoặc một cây gỗ sau nhiều năm sẽ tự tăng trưởng về thể tích và khối lượng. 

Do đó, nếu không có Tài khoản 215, hệ thống kế toán sẽ gặp khó khăn việc ghi nhận sự tăng trưởng giá trị tự nhiên này, khiến số liệu trên sổ sách phản ánh sai lệch giá trị nội tại của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc chăn nuôi hay trồng trọt thường kéo dài qua nhiều kỳ kế toán với các khoảng thời gian phát sinh chi phí rất khác nhau. Nhờ có Tài khoản 215 cùng các tài khoản cấp con, kế toán có thể tách bạch rõ ràng đâu là chi phí chăm sóc tạo nên nguyên giá tài sản sinh học trong giai đoạn kiến thiết ban đầu, đâu là chi phí khấu hao tài sản khi đi vào vận hành khai thác, và đâu là chi phí biến đổi tạo nên giá thành của sản phẩm thu hoạch. Sự rõ ràng này giúp doanh nghiệp loại bỏ tình trạng dồn tích chi phí bất hợp lý, từ đó tính toán chính xác điểm hòa vốn và hiệu quả kinh doanh của từng dự án nông nghiệp.

2. Quy định phân loại và kết cấu Tài khoản 215

2.1. Khai thác sản phẩm định kỳ (Tài khoản 2151)

Nhóm tài sản sinh học phục vụ cho mục đích khai thác sản phẩm định kỳ hoặc sinh sản được theo dõi trên Tài khoản 2151. Đây là những tài sản được giữ lại trong doanh nghiệp qua nhiều kỳ kế toán để thu hoạch sản phẩm nhiều lần, chẳng hạn như đàn bò lấy sữa, đàn gà đẻ trứng, đàn lợn nái sinh sản, hoặc các vườn cây lâu năm như cao su, chè, cà phê, hồ tiêu. Nhằm phản ánh chính xác trạng thái phát triển của tài sản, Thông tư 99 chia Tài khoản 2151 thành hai giai đoạn rõ rệt.

- Giai đoạn đầu tiên là Tài khoản 21511 dùng để theo dõi súc vật nuôi cho sản phẩm định kỳ nhưng chưa đạt đến giai đoạn trưởng thành. Toàn bộ các chi phí phát sinh từ khâu mua giống, chi phí thức ăn, thuốc thú y, phân bón, nhân công chăm sóc cho đến các chi phí quản lý trực tiếp trong suốt quá trình nuôi dưỡng ban đầu đều được tích lũy vào bên Nợ của Tài khoản 21511. 

- Giai đoạn thứ hai là Tài khoản 21512 dùng để phản ánh súc vật nuôi đã đạt đến giai đoạn trưởng thành, tức là thời điểm tài sản bắt đầu có khả năng cho sản phẩm thương mại hoặc phục vụ mục đích sinh sản một cách ổn định. Tài khoản 215121 phản ánh nguyên giá tài sản sinh học trưởng thành và Tài khoản 215122 phản ánh giá trị hao mòn lũy kế phát sinh trong quá trình khai thác

2.2. Khai thác sản phẩm một lần (Tài khoản 2152 và 2153)

Khác biệt hoàn toàn với nhóm khai thác định kỳ, nhóm tài sản sinh học thu hoạch một lần được theo dõi riêng biệt trên hai tài khoản cấp 2 tùy thuộc vào bản chất là động vật hay thực vật. Tài khoản 2152 áp dụng đối với các loại súc vật nuôi lấy sản phẩm một lần. Ví dụ: các trang trại chăn nuôi lợn thịt, bò thịt, gà thịt, vịt thịt, hoặc các mô hình nuôi trồng thủy hải sản như tôm, cá thương phẩm. Mọi chi phí đầu tư ban đầu và chi phí chăm sóc hàng ngày sẽ được tập hợp vào Tài khoản 2152 cho đến khi xuất bán hoặc đưa vào chế biến.

Tương tự, Tài khoản 2153 được sử dụng để theo dõi các loại cây trồng theo mùa vụ hoặc cây lâu năm lấy sản phẩm một lần. Các đối tượng phổ biến hạch toán trên Tài khoản 2153 có thể kể đến như rừng cây trồng lấy gỗ, keo, bạch đàn, hoặc các ruộng cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày như lúa, ngô, mía, sắn. Toàn bộ chi phí làm đất, gieo hạt, chăm bón, bảo vệ thực vật đều được ghi nhận tích lũy trên Tài khoản 2153 và chỉ được kết chuyển nhập kho khi doanh nghiệp tiến hành thu hoạch hoặc khai thác trắng toàn bộ diện tích.

2.3. Trích lập dự phòng tổn thất (Tài khoản 2295)

Một trong những điểm mới thể hiện sự thận trọng và linh hoạt của Thông tư 99 là việc bổ sung Tài khoản 2295 dành riêng cho việc trích lập dự phòng tổn thất tài sản sinh học. Hoạt động sản xuất nông nghiệp luôn chứa đựng mức độ rủi ro rất cao do phụ thuộc lớn vào biến đổi khí hậu, thời tiết, dịch bệnh và biến động giá cả thị trường. Khi xảy ra các sự cố ngoài dự kiến như dịch tả lợn, dịch cúm gia cầm, thiên tai bão lũ, hoặc khi giá trị thị trường của sản phẩm nông nghiệp sụt giảm nghiêm trọng xuống thấp hơn giá trị ghi sổ, doanh nghiệp được phép xác định mức tổn thất dự kiến và trích lập dự phòng vào Tài khoản 2295. Khoản chi phí dự phòng này được ghi nhận trực tiếp vào chi phí quản lý hoặc chi phí sản xuất trong kỳ, giúp doanh nghiệp chủ động bảo toàn vốn và phản ánh trung thực giá trị tài sản trên Báo cáo tình hình tài chính.

3. Nguyên tắc hạch toán và phương pháp trích khấu hao

3.1. Đối với nhóm khai thác định kỳ

Trong suốt giai đoạn tài sản sinh học chưa trưởng thành, mọi chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng (Bê con đang nuôi lớn để thành bò sữa, gà hậu bị đang chăm sóc trước khi đẻ trứng, heo con đang nuôi hậu bị để làm heo nái sinh sản...) đều được coi là chi phí đầu tư và được vốn hóa trực tiếp vào Tài khoản 21511. 

Kế toán không thực hiện trích khấu hao đối với Tài khoản 21511. Khi vật nuôi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật để chuyển sang giai đoạn trưởng thành, kế toán tiến hành kết chuyển toàn bộ chi phí đã tích lũy từ Tài khoản 21511 sang Tài khoản 215121 để ghi nhận nguyên giá chính thức của tài sản sinh học trưởng thành.

Tài sản sinh học thuộc Tài khoản 215121 bắt đầu chịu sự tác động của quá trình hao mòn và thoái hóa sinh học. Do đó, doanh nghiệp bắt buộc phải thực hiện trích khấu hao định kỳ hàng tháng đối với nhóm tài sản này tương tự như phương pháp trích khấu hao tài sản cố định hữu hình. Giá trị trích khấu hao hàng tháng được ghi Nợ cho các tài khoản chi phí sản xuất tương ứng như Tài khoản 627 và ghi Có cho Tài khoản 215122. Khoản chi phí khấu hao này sẽ cấu thành nên giá thành của các sản phẩm nông nghiệp thu hoạch định kỳ. Ví dụ: giá thành của sản lượng sữa bò thu được hoặc giá thành của trứng gà thu hoạch trong kỳ. Khi tài sản sinh học trưởng thành hết tuổi thọ khai thác hoặc bị thải loại, kế toán tiến hành ghi giảm nguyên giá trên Tài khoản 215121, xóa sổ giá trị hao mòn lũy kế trên Tài khoản 215122 và hạch toán phần giá trị còn lại vào chi phí thanh lý.

3.2. Đối với nhóm thu hoạch một lần

Đối với nhóm tài sản sinh học thu hoạch một lần trên Tài khoản 2152 và 2153, doanh nghiệp tuyệt đối không trích khấu hao đối với các tài khoản này. Lý do là vì quá trình tích lũy chi phí trên Tài khoản 2152 và 2153 thực chất là quá trình hình thành nên giá trị của bản thân sản phẩm cuối cùng. Toàn bộ các khoản chi phí phát sinh trong suốt vòng đời của vật nuôi hoặc cây trồng, từ khâu mua con giống, hạt giống, chi phí thức ăn, thuốc thú y, phân bón cho đến chi phí nhân công trực tiếp, đều được tập hợp liên tục vào bên Nợ của hai tài khoản này.

Đến thời điểm thu hoạch hoặc xuất bán, kế toán tiến hành kết chuyển giá trị tích lũy tùy theo phương thức tiêu thụ của doanh nghiệp. Trường hợp sản phẩm sau khi thu hoạch được đưa về kho để chờ tiêu thụ, chẳng hạn như lúa gặt về nhập kho hoặc gỗ đốn hạ đưa về bãi, kế toán ghi Nợ Tài khoản 155 và ghi Có Tài khoản 2153. Trường hợp doanh nghiệp xuất bán trực tiếp sản phẩm tại trang trại hoặc tại rừng trồng mà không qua khâu nhập kho, toàn bộ chi phí tích lũy trên Tài khoản 2152 hoặc 2153 sẽ được kết chuyển thẳng vào giá vốn hàng bán trên bên Nợ của Tài khoản 632. Việc không trích khấu hao mà tích lũy toàn bộ chi phí giúp doanh nghiệp phản ánh chính xác tổng chi phí đầu tư và tính toán chuẩn xác giá vốn cho từng đợt thu hoạch..

4. Hướng dẫn chuyển đổi và quản trị nội bộ cho doanh nghiệp

Để triển khai hiệu quả quy định mới, bộ phận kế toán cần chủ động thực hiện rà soát lại toàn bộ danh mục cây trồng và vật nuôi đang theo dõi trên hệ thống sổ sách cũ. Doanh nghiệp cần lập bảng đối chiếu để chuyển toàn bộ số dư từ các tài khoản cũ sang Tài khoản 215 ngay trong kỳ kế toán năm 2026.

Bên cạnh việc nâng cấp phần mềm kế toán để cập nhật danh mục tài khoản mới, phòng kế toán cần phối hợp chặt chẽ với bộ phận kỹ thuật nông nghiệp để ban hành quy chế nội bộ. Quy chế này đóng vai trò thiết lập các tiêu chí kỹ thuật rõ ràng để xác định chính xác mốc thời điểm tài sản "đạt giai đoạn trưởng thành", làm căn cứ pháp lý cho việc dừng tích lũy chi phí và bắt đầu trích khấu hao.

Nguồn: [Thông tư 99/2025/TT-BTC/Thư Viện Pháp Luật] – [https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Thong-tu-99-2025-TT-BTC-huong-dan-Che-do-ke-toan-doanh-nghiep-565484.aspx]

Thông tin khác

Previous Post