Phụ cấp điện thoại, xăng xe có tính thuế TNCN từ 01/07/2026?
Từ ngày 01/7/2026, các quy định mới về thuế TNCN chính thức được áp dụng, trong đó có những thay đổi đáng chú ý khi xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công.
Một vấn đề được nhiều người lao động và doanh nghiệp quan tâm là phụ cấp điện thoại, phụ cấp xăng xe có tính thuế TNCN không? Theo quy định mới, việc tính thuế không chỉ phụ thuộc vào tên gọi của khoản phụ cấp mà còn căn cứ vào bản chất khoản chi, mức khoán, quy chế của doanh nghiệp và hồ sơ, chứng từ đi kèm. Bài viết dưới đây sẽ giúp làm rõ từng trường hợp và cách áp dụng khi tính thuế TNCN năm 2026.
Nói đơn giản, doanh nghiệp có thể quy định một mức khoán tiền điện thoại cho người lao động để phục vụ công việc.
Nếu khoản chi này phù hợp với quy chế, định mức và điều kiện để xác định chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp thì khoản chi trong phạm vi đó không phải cộng vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.
Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp chi tiền điện thoại cao hơn mức khoán chi theo quy định, phần vượt quá mức quy định sẽ được tính vào thu nhập từ tiền lương, tiền công chịu thuế TNCN.
Đây là điểm người làm payroll cần đặc biệt lưu ý khi lập bảng lương.
Như vậy, không nên hiểu đơn giản rằng cứ ghi trên bảng lương là “phụ cấp điện thoại” thì sẽ được miễn thuế.
Điều quan trọng là doanh nghiệp phải xác định được mức khoán chi hợp lý và có căn cứ.
Mức khoán chi được xác định khác nhau tùy vào nơi người lao động làm việc.
Đối với cán bộ, công chức, viên chức và người làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp, Đảng, đoàn thể, hội, hiệp hội, mức khoán chi được áp dụng theo văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo quy chế của cơ quan, tổ chức đó.
Đối với người lao động làm việc tại doanh nghiệp và các tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh doanh, mức khoán chi được áp dụng phù hợp với việc xác định chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
Đối với người lao động làm việc trong tổ chức quốc tế hoặc văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài, mức khoán chi được thực hiện theo quy định của tổ chức quốc tế hoặc văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài.
Trong tháng, công ty chi cho nhân viên 500.000 đồng theo đúng quy chế và điều kiện áp dụng.
Khoản 500.000 đồng này có thể được xác định theo quy định về khoản khoán chi phục vụ công việc và không phải cộng vào thu nhập chịu thuế TNCN nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện.
Nhưng nếu công ty chi cho nhân viên 800.000 đồng/tháng, trong khi mức khoán được xác định hợp lệ chỉ là 500.000 đồng, thì phần 300.000 đồng vượt mức sẽ được tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Vì vậy, khi xử lý payroll, cần tách rõ phần được miễn và phần phải tính thuế, thay vì mặc định toàn bộ khoản phụ cấp điện thoại đều không chịu thuế.
Cần xem khoản tiền đó thực chất là khoản hỗ trợ phục vụ công việc hay là khoản tiền doanh nghiệp trả thêm cho cá nhân.
Một số khoản liên quan đến đi lại được loại khỏi thu nhập chịu thuế TNCN nếu đáp ứng đúng điều kiện theo quy định.
Đây là trường hợp mang tính chất chế độ đặc thù, không nên áp dụng máy móc cho người lao động thông thường tại doanh nghiệp Việt Nam.
Bên cạnh đó, phương tiện được đơn vị bố trí để đưa đón người lao động từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại theo quy chế của đơn vị cũng thuộc trường hợp không tính vào thu nhập chịu thuế.
Điểm cần chú ý là bản chất của khoản này là phương tiện phục vụ việc đi lại theo chế độ hoặc theo quy chế của đơn vị, chứ không đơn thuần là doanh nghiệp trả thêm một khoản tiền cố định cho người lao động.
Khoản này có thể không tính vào thu nhập chịu thuế trong trường hợp đáp ứng điều kiện quy định, chẳng hạn đối với người lao động nước ngoài về phép mỗi năm một lần từ Việt Nam đến quốc gia nơi người đó mang quốc tịch hoặc nơi gia đình sinh sống và ngược lại.
Tương tự, người Việt Nam làm việc ở nước ngoài được thanh toán vé máy bay về Việt Nam và quay lại nơi làm việc theo điều kiện quy định cũng thuộc trường hợp được xem xét không tính vào thu nhập chịu thuế.
Các khoản thanh toán mà người sử dụng lao động trả cho nhà cung cấp hoặc trả cho người lao động để phục vụ việc đi công tác có thể không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện.
Khoản chi cần được thực hiện theo quyết định hoặc văn bản cử người lao động đi công tác, quy chế tài chính, quy chế nội bộ, hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động.
Đồng thời, doanh nghiệp cần có hóa đơn, chứng từ theo quy định.
Do đó, nếu người lao động đi công tác và công ty thanh toán chi phí xăng xe, vé máy bay, khách sạn hoặc các khoản chi phục vụ chuyến công tác theo đúng hồ sơ, chứng từ thì không nên mặc định xem đó là “phụ cấp” chịu thuế.
Ví dụ, doanh nghiệp quy định mỗi nhân viên được nhận 1.000.000 đồng phụ cấp xăng xe mỗi tháng, bất kể người lao động có đi công tác hay không.
Trong trường hợp này, doanh nghiệp cần xem xét bản chất khoản tiền, quy chế chi trả và điều kiện để xác định khoản chi có thuộc khoản được loại trừ khỏi thu nhập chịu thuế hay không.
Không nên chỉ dựa vào tên gọi “phụ cấp xăng xe” để kết luận khoản tiền này được miễn thuế.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp thanh toán chi phí đi lại thực tế phát sinh để phục vụ công việc, có quy chế, quyết định công tác và hóa đơn, chứng từ phù hợp thì khoản chi có cơ sở để được xem xét theo quy định về các khoản thanh toán phục vụ công việc.
Nếu doanh nghiệp thanh toán chi phí thực tế để phục vụ công việc, đồng thời đáp ứng đầy đủ điều kiện và chứng từ theo quy định, khoản chi có thể không tính vào thu nhập chịu thuế.
Vì vậy, bộ phận kế toán và payroll cần phân biệt rõ hai trường hợp này.
Theo khoản 1 Điều 10 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, mức giảm trừ gia cảnh đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công được xác định như sau:
Ví dụ, một người lao động có thu nhập chịu thuế sau khi trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc và các khoản giảm trừ khác mà phần thu nhập tính thuế vẫn không vượt mức phù hợp thì có thể chưa phát sinh số thuế phải nộp.
Nếu người lao động có người phụ thuộc được đăng ký hợp lệ, mức giảm trừ tiếp tục được tăng thêm 6,2 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc.
Điều này rất quan trọng đối với doanh nghiệp khi thực hiện payroll.
Khi lập bảng lương trong năm 2026, doanh nghiệp cần xác định đúng khoản nào là thu nhập chịu thuế, khoản nào được loại trừ và áp dụng đúng các khoản giảm trừ theo quy định mới.
Đặc biệt, các khoản phụ cấp như điện thoại, xăng xe, công tác phí không nên xử lý chỉ dựa trên tên gọi trên bảng lương.
Từ năm 2026, biểu thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công gồm 5 bậc thuế.
Bậc 1 áp dụng đối với phần thu nhập tính thuế đến 10 triệu đồng/tháng, thuế suất là 5%.
Bậc 2 áp dụng đối với phần thu nhập tính thuế trên 10 triệu đồng đến 30 triệu đồng/tháng, thuế suất là 10%.
Bậc 3 áp dụng đối với phần thu nhập tính thuế trên 30 triệu đồng đến 60 triệu đồng/tháng, thuế suất là 20%.
Bậc 4 áp dụng đối với phần thu nhập tính thuế trên 60 triệu đồng đến 100 triệu đồng/tháng, thuế suất là 30%.
Bậc 5 áp dụng đối với phần thu nhập tính thuế trên 100 triệu đồng/tháng, thuế suất là 35%.
Để tính nhanh, có thể sử dụng công thức rút gọn:
Theo quy định, thu nhập tính thuế được xác định từ thu nhập chịu thuế sau khi trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc và các khoản giảm trừ được pháp luật cho phép.
Đối với phụ cấp điện thoại, khoản khoán chi phục vụ công việc trong mức quy định có thể không tính vào thu nhập chịu thuế; phần vượt mức quy định phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Đối với xăng xe và đi lại, một số khoản phục vụ công việc, phương tiện đưa đón hoặc chi phí công tác đáp ứng điều kiện, quy chế và chứng từ theo quy định có thể không tính vào thu nhập chịu thuế.
Tuy nhiên, không phải mọi khoản “phụ cấp xăng xe” trả cố định cho người lao động đều mặc nhiên được miễn thuế.
Bên cạnh đó, từ kỳ tính thuế năm 2026, người nộp thuế được giảm trừ gia cảnh 15,5 triệu đồng/tháng, mỗi người phụ thuộc được giảm trừ 6,2 triệu đồng/tháng. Doanh nghiệp cần cập nhật các quy định mới khi xây dựng bảng lương, tính thuế và thực hiện quyết toán TNCN.
Việc hiểu đúng từng khoản phụ cấp ngay từ đầu sẽ giúp doanh nghiệp tính payroll chính xác, hạn chế sai sót về thuế TNCN và tránh phải điều chỉnh bảng lương về sau.
Một vấn đề được nhiều người lao động và doanh nghiệp quan tâm là phụ cấp điện thoại, phụ cấp xăng xe có tính thuế TNCN không? Theo quy định mới, việc tính thuế không chỉ phụ thuộc vào tên gọi của khoản phụ cấp mà còn căn cứ vào bản chất khoản chi, mức khoán, quy chế của doanh nghiệp và hồ sơ, chứng từ đi kèm. Bài viết dưới đây sẽ giúp làm rõ từng trường hợp và cách áp dụng khi tính thuế TNCN năm 2026.
I. Từ 01/7/2026, phụ cấp điện thoại có tính thuế TNCN không?
1. Phụ cấp điện thoại có phải chịu thuế TNCN?
Theo quy định mới, khoản khoán chi điện thoại phục vụ công việc có thể không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN nếu được chi trong mức phù hợp với quy định.Nói đơn giản, doanh nghiệp có thể quy định một mức khoán tiền điện thoại cho người lao động để phục vụ công việc.
Nếu khoản chi này phù hợp với quy chế, định mức và điều kiện để xác định chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp thì khoản chi trong phạm vi đó không phải cộng vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.
Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp chi tiền điện thoại cao hơn mức khoán chi theo quy định, phần vượt quá mức quy định sẽ được tính vào thu nhập từ tiền lương, tiền công chịu thuế TNCN.
Đây là điểm người làm payroll cần đặc biệt lưu ý khi lập bảng lương.
2. Căn cứ xác định mức khoán chi điện thoại
Theo điểm đ khoản 2 Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, phần khoán chi văn phòng phẩm, công tác phí, điện thoại, trang phục phục vụ công việc của cá nhân cao hơn mức quy định thì được tính vào thu nhập từ tiền lương, tiền công chịu thuế TNCN.Như vậy, không nên hiểu đơn giản rằng cứ ghi trên bảng lương là “phụ cấp điện thoại” thì sẽ được miễn thuế.
Điều quan trọng là doanh nghiệp phải xác định được mức khoán chi hợp lý và có căn cứ.
Mức khoán chi được xác định khác nhau tùy vào nơi người lao động làm việc.
Đối với cán bộ, công chức, viên chức và người làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp, Đảng, đoàn thể, hội, hiệp hội, mức khoán chi được áp dụng theo văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo quy chế của cơ quan, tổ chức đó.
Đối với người lao động làm việc tại doanh nghiệp và các tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh doanh, mức khoán chi được áp dụng phù hợp với việc xác định chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
Đối với người lao động làm việc trong tổ chức quốc tế hoặc văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài, mức khoán chi được thực hiện theo quy định của tổ chức quốc tế hoặc văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài.
3. Ví dụ dễ hiểu về phụ cấp điện thoại
Giả sử Công ty A có quy chế quy định nhân viên được khoán tiền điện thoại phục vụ công việc là 500.000 đồng/tháng.Trong tháng, công ty chi cho nhân viên 500.000 đồng theo đúng quy chế và điều kiện áp dụng.
Khoản 500.000 đồng này có thể được xác định theo quy định về khoản khoán chi phục vụ công việc và không phải cộng vào thu nhập chịu thuế TNCN nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện.
Nhưng nếu công ty chi cho nhân viên 800.000 đồng/tháng, trong khi mức khoán được xác định hợp lệ chỉ là 500.000 đồng, thì phần 300.000 đồng vượt mức sẽ được tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Vì vậy, khi xử lý payroll, cần tách rõ phần được miễn và phần phải tính thuế, thay vì mặc định toàn bộ khoản phụ cấp điện thoại đều không chịu thuế.
II. Phụ cấp xăng xe, đi lại có tính thuế TNCN không?
Đối với phụ cấp xăng xe và các khoản hỗ trợ đi lại, câu trả lời cũng không phải tất cả đều được miễn thuế.Cần xem khoản tiền đó thực chất là khoản hỗ trợ phục vụ công việc hay là khoản tiền doanh nghiệp trả thêm cho cá nhân.
Một số khoản liên quan đến đi lại được loại khỏi thu nhập chịu thuế TNCN nếu đáp ứng đúng điều kiện theo quy định.
1. Khoản tiền theo chế độ đối với người làm việc tại cơ quan Việt Nam ở nước ngoài
Khoản tiền được hưởng theo chế độ do cơ quan Việt Nam ở nước ngoài chi trả cho thành viên cơ quan Việt Nam ở nước ngoài, phu nhân hoặc phu quân và con đi theo thành viên cơ quan Việt Nam ở nước ngoài theo quy định pháp luật có liên quan thuộc nhóm khoản tiền không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.Đây là trường hợp mang tính chất chế độ đặc thù, không nên áp dụng máy móc cho người lao động thông thường tại doanh nghiệp Việt Nam.
2. Khoản tiền liên quan đến phương tiện đi lại
Khoản tiền nhận được theo chế độ liên quan đến việc sử dụng phương tiện đi lại trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức Đảng, đoàn thể cũng thuộc nhóm khoản không tính vào thu nhập chịu thuế theo quy định.Bên cạnh đó, phương tiện được đơn vị bố trí để đưa đón người lao động từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại theo quy chế của đơn vị cũng thuộc trường hợp không tính vào thu nhập chịu thuế.
Điểm cần chú ý là bản chất của khoản này là phương tiện phục vụ việc đi lại theo chế độ hoặc theo quy chế của đơn vị, chứ không đơn thuần là doanh nghiệp trả thêm một khoản tiền cố định cho người lao động.
3. Tiền vé máy bay cho người lao động về phép
Một trường hợp khác liên quan đến chi phí đi lại là tiền mua vé máy bay do người sử dụng lao động trả thay hoặc thanh toán cho người lao động.Khoản này có thể không tính vào thu nhập chịu thuế trong trường hợp đáp ứng điều kiện quy định, chẳng hạn đối với người lao động nước ngoài về phép mỗi năm một lần từ Việt Nam đến quốc gia nơi người đó mang quốc tịch hoặc nơi gia đình sinh sống và ngược lại.
Tương tự, người Việt Nam làm việc ở nước ngoài được thanh toán vé máy bay về Việt Nam và quay lại nơi làm việc theo điều kiện quy định cũng thuộc trường hợp được xem xét không tính vào thu nhập chịu thuế.
4. Chi phí đi công tác của người lao động
Đây là trường hợp doanh nghiệp thường xuyên gặp khi xử lý bảng lương và chi phí.Các khoản thanh toán mà người sử dụng lao động trả cho nhà cung cấp hoặc trả cho người lao động để phục vụ việc đi công tác có thể không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện.
Khoản chi cần được thực hiện theo quyết định hoặc văn bản cử người lao động đi công tác, quy chế tài chính, quy chế nội bộ, hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động.
Đồng thời, doanh nghiệp cần có hóa đơn, chứng từ theo quy định.
Do đó, nếu người lao động đi công tác và công ty thanh toán chi phí xăng xe, vé máy bay, khách sạn hoặc các khoản chi phục vụ chuyến công tác theo đúng hồ sơ, chứng từ thì không nên mặc định xem đó là “phụ cấp” chịu thuế.
III. Phụ cấp xăng xe hàng tháng có được miễn thuế TNCN không?
Đây là vấn đề rất dễ gây nhầm lẫn.Ví dụ, doanh nghiệp quy định mỗi nhân viên được nhận 1.000.000 đồng phụ cấp xăng xe mỗi tháng, bất kể người lao động có đi công tác hay không.
Trong trường hợp này, doanh nghiệp cần xem xét bản chất khoản tiền, quy chế chi trả và điều kiện để xác định khoản chi có thuộc khoản được loại trừ khỏi thu nhập chịu thuế hay không.
Không nên chỉ dựa vào tên gọi “phụ cấp xăng xe” để kết luận khoản tiền này được miễn thuế.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp thanh toán chi phí đi lại thực tế phát sinh để phục vụ công việc, có quy chế, quyết định công tác và hóa đơn, chứng từ phù hợp thì khoản chi có cơ sở để được xem xét theo quy định về các khoản thanh toán phục vụ công việc.
Có thể hiểu đơn giản như sau:
Nếu doanh nghiệp trả tiền cho người lao động để người lao động có thêm thu nhập, khoản tiền đó có khả năng phải tính vào thu nhập chịu thuế.Nếu doanh nghiệp thanh toán chi phí thực tế để phục vụ công việc, đồng thời đáp ứng đầy đủ điều kiện và chứng từ theo quy định, khoản chi có thể không tính vào thu nhập chịu thuế.
Vì vậy, bộ phận kế toán và payroll cần phân biệt rõ hai trường hợp này.
IV. Từ 01/7/2026, mức giảm trừ gia cảnh khi tính thuế TNCN là bao nhiêu?
Không chỉ thay đổi cách xác định một số khoản thu nhập, quy định thuế TNCN áp dụng từ năm 2026 còn có mức giảm trừ gia cảnh mới.Theo khoản 1 Điều 10 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, mức giảm trừ gia cảnh đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công được xác định như sau:
- 15,5 triệu đồng/tháng, tương đương 186 triệu đồng/năm, đối với người nộp thuế.
- 6,2 triệu đồng/tháng đối với mỗi người phụ thuộc.
Ví dụ, một người lao động có thu nhập chịu thuế sau khi trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc và các khoản giảm trừ khác mà phần thu nhập tính thuế vẫn không vượt mức phù hợp thì có thể chưa phát sinh số thuế phải nộp.
Nếu người lao động có người phụ thuộc được đăng ký hợp lệ, mức giảm trừ tiếp tục được tăng thêm 6,2 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc.
V. Luật Thuế TNCN 2025 áp dụng từ thời điểm nào?
Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tuy nhiên các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.Điều này rất quan trọng đối với doanh nghiệp khi thực hiện payroll.
Khi lập bảng lương trong năm 2026, doanh nghiệp cần xác định đúng khoản nào là thu nhập chịu thuế, khoản nào được loại trừ và áp dụng đúng các khoản giảm trừ theo quy định mới.
Đặc biệt, các khoản phụ cấp như điện thoại, xăng xe, công tác phí không nên xử lý chỉ dựa trên tên gọi trên bảng lương.
VI. Công thức tính thuế TNCN năm 2026
Theo Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được xác định dựa trên thu nhập tính thuế nhân với thuế suất theo biểu thuế lũy tiến từng phần.Từ năm 2026, biểu thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công gồm 5 bậc thuế.
Bậc 1 áp dụng đối với phần thu nhập tính thuế đến 10 triệu đồng/tháng, thuế suất là 5%.
Bậc 2 áp dụng đối với phần thu nhập tính thuế trên 10 triệu đồng đến 30 triệu đồng/tháng, thuế suất là 10%.
Bậc 3 áp dụng đối với phần thu nhập tính thuế trên 30 triệu đồng đến 60 triệu đồng/tháng, thuế suất là 20%.
Bậc 4 áp dụng đối với phần thu nhập tính thuế trên 60 triệu đồng đến 100 triệu đồng/tháng, thuế suất là 30%.
Bậc 5 áp dụng đối với phần thu nhập tính thuế trên 100 triệu đồng/tháng, thuế suất là 35%.
Để tính nhanh, có thể sử dụng công thức rút gọn:
Bậc 1: Thuế TNCN = 5% × thu nhập tính thuế.
Bậc 2: Thuế TNCN = 10% × thu nhập tính thuế − 0,5 triệu đồng.
Bậc 3: Thuế TNCN = 20% × thu nhập tính thuế − 3,5 triệu đồng.
Bậc 4: Thuế TNCN = 30% × thu nhập tính thuế − 9,5 triệu đồng.
Bậc 5: Thuế TNCN = 35% × thu nhập tính thuế − 14,5 triệu đồng.
Trong đó, thu nhập tính thuế không phải là toàn bộ số tiền người lao động nhận được.Theo quy định, thu nhập tính thuế được xác định từ thu nhập chịu thuế sau khi trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc và các khoản giảm trừ được pháp luật cho phép.
Kết luận
Từ ngày 01/7/2026, câu hỏi “phụ cấp điện thoại có tính thuế TNCN không?” hay “phụ cấp xăng xe có tính thuế TNCN không?” cần được xem xét dựa trên bản chất khoản chi và điều kiện áp dụng, thay vì chỉ căn cứ vào tên gọi trên bảng lương.Đối với phụ cấp điện thoại, khoản khoán chi phục vụ công việc trong mức quy định có thể không tính vào thu nhập chịu thuế; phần vượt mức quy định phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Đối với xăng xe và đi lại, một số khoản phục vụ công việc, phương tiện đưa đón hoặc chi phí công tác đáp ứng điều kiện, quy chế và chứng từ theo quy định có thể không tính vào thu nhập chịu thuế.
Tuy nhiên, không phải mọi khoản “phụ cấp xăng xe” trả cố định cho người lao động đều mặc nhiên được miễn thuế.
Bên cạnh đó, từ kỳ tính thuế năm 2026, người nộp thuế được giảm trừ gia cảnh 15,5 triệu đồng/tháng, mỗi người phụ thuộc được giảm trừ 6,2 triệu đồng/tháng. Doanh nghiệp cần cập nhật các quy định mới khi xây dựng bảng lương, tính thuế và thực hiện quyết toán TNCN.
Việc hiểu đúng từng khoản phụ cấp ngay từ đầu sẽ giúp doanh nghiệp tính payroll chính xác, hạn chế sai sót về thuế TNCN và tránh phải điều chỉnh bảng lương về sau.
Nguồn:https://thuvienphapluat.vn/phap-luat/ho-tro-phap-luat/tu-172026-phu-cap-dien-thoai-co-tinh-thue-tncn-phu-cap-xang-xe-dien-thoai-co-tinh-thue-tncn-khong-272156.htmlThông tin khác
