Phân tích những quy định VAS còn thiếu so với IFRS
I. Quy định liên quan tới việc đánh giá lại tài sản và nợ phải trả theo giá trị hợp lý
Sự khác biệt này không nằm ở thời điểm ghi nhận ban đầu mà thực chất là ở thời điểm sau khi đã ghi nhận ban đầu và doanh nghiệp lập và trình bày báo cáo tài chính.
Theo quy định của VAS, tại ngày báo cáo, hầu hết tài sản và nợ vẫn được ghi nhận theo giá gốc, tức là không điều chỉnh theo giá trị hợp lý. Những thay đổi về giá trị hợp lý chưa được phản ánh, trừ trường hợp đánh giá lại các khoản tiền tệ có gốc ngoại tệ.
Một số quan điểm cho rằng, trong trường hợp chứng khoán kinh doanh, đã được đánh giá lại theo giá trị hợp lý thông qua việc trích lập dự phòng giảm giá. Tuy nhiên, việc trích lập dự phòng giảm giá chỉ đơn giản là ghi nhận một chiều của sự thay đổi giá trị hợp lý (giảm giá) chưa phải là quy định đầy đủ như trong IFRS.
Tóm lại, hai tiêu chuẩn kế toán này có sự khác biệt về cách ghi nhận đánh giá lại theo giá trị hợp lý, và VAS chưa áp dụng rộng rãi như IFRS trong việc điều chỉnh giá trị tài sản và nợ dựa trên giá trị hợp lý.
II. Quy định về ghi nhận theo giá trị hiện tại, giá hiện hành, giá trị phân bổ, chiết khấu dòng tiền theo lãi suất hiệu lực
Theo IFRS, một số tài sản như các khoản phải thu hay các khoản cho vay phải được ghi nhận theo giá phí phân bổ, dựa trên giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai dự kiến. Điều này giúp thể hiện chính xác hơn giá trị thực của các khoản tài sản này.
Trong VAS, quy định cũng đã đề cập tới việc này trong VAS 14, nhưng thực tế, chưa có hướng dẫn cụ thể nào được đưa ra để thực hiện việc ghi nhận theo giá trị hiện tại, giá hiện hành, giá trị phân bổ và chiết khấu dòng tiền theo lãi suất hiệu lực. Do đó, vấn đề này vẫn là một trong những sự khác biệt rõ ràng giữa hai hệ thống kế toán này.
III. Quy định liên quan đến kế toán Tài sản cố định
1. Nguyên giá TSCĐ
IFRS cho phép tính vào nguyên giá Tài sản cố định (TSCĐ) những chi phí có thể phát sinh trong tương lai, như chi phí tháo dỡ, hoàn trả mặt bằng của TSCĐ. Tuy nhiên, VAS không cho phép ghi nhận các chi phí này như một trong các yếu tố cấu thành nguyên giá TSCĐ.
2. Đánh giá lại TSCĐ tại thời điểm báo cáo
- Khi đánh giá tăng giá trị Tài sản cố định (TSCĐ), phần tăng được ghi nhận vào nguồn vốn sau khi đã bù trừ hết số lỗ đã ghi nhận là chi phí do đã đánh giá giảm giá trước đó.
- Khi đánh giá giảm giá trị TSCĐ để ghi nhận tổn thất tài sản, phần giảm được ghi nhận vào chi phí sau khi đã bù trừ hết số được ghi nhận trong nguồn vốn do đã đánh giá tăng giá trị trước đó.
- Có quyết định của cơ quan Nhà nước
- Đưa tài sản đi góp vốn liên doanh, liên kết.
- Đưa tài sản đi chia tách, sáp nhập.
IV. Quy định về ghi nhận tổn thất tài sản
- Theo Chế độ kế toán doanh nghiệp và cơ chế tài chính, doanh nghiệp được trích dự phòng đối với các khoản đầu tư vào công ty con, liên doanh, liên kết nếu các công ty này bị lỗ. Tuy nhiên, giá trị các khoản đầu tư bị tổn thất có thể cao hơn so với số lỗ trong kỳ của các công ty này.
- Lợi thế thương mại được phân bổ trong suốt 10 năm theo VAS, nhưng theo IFRS, yêu cầu xác định số tổn thất hàng năm thay vì tính trên cơ sở phân bổ đều.
V. Quy định về các loại giao dịch
1. Quy định về giao dịch thuê tài sản
- IFRS 16 không phân biệt giao dịch cho thuê tài chính và cho thuê hoạt động. Thay vào đó, IFRS 16 chỉ phân biệt giao dịch cho thuê và giao dịch cung cấp dịch vụ. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp được ghi nhận cả tài sản thuê hoạt động trên báo cáo tài chính.
- Trong khi đó, VAS 6 vẫn dựa trên IAS 17 cũ nên tất cả những sự thay đổi của IFRS 16 đều tạo sự khác biệt giữa 2 hệ thống.
- Tóm lại, IFRS 16 không phân biệt rõ ràng giữa giao dịch cho thuê tài chính và cho thuê hoạt động, và cho phép ghi nhận tài sản thuê hoạt động trong báo cáo tài chính. Trong khi đó, VAS 6 tiếp tục tuân thủ IAS 17 cũ và không thực hiện các thay đổi của IFRS 16, dẫn đến sự khác biệt giữa hai hệ thống kế toán này.
2. Quy định về giao dịch hợp nhất kinh doanh
2.1. Lợi thế thương mại
- IFRS 3 yêu cầu tính lợi thế thương mại phát sinh khi mua công ty con cho cả phần sở hữu của cổ đông không kiểm soát, trong khi VAS 11 chỉ yêu cầu ghi nhận lợi thế thương mại cho phần sở hữu của công ty mẹ.
- Trong các giao dịch hợp nhất kinh doanh qua nhiều giai đoạn, IFRS 3 quy định lợi thế thương mại chỉ được xác định một lần duy nhất tại ngày kiểm soát. Theo đó, lợi thế thương mại phải được xác định dựa trên tài sản thuần của công ty con tại ngày kiểm soát và đánh giá lại giá trị khoản đầu tư của công ty mẹ trước đây theo giá trị hợp lý tại ngày kiểm soát.
- VAS yêu cầu xác định giá trị lợi thế thương mại là tổng giá trị lợi thế thương mại phát sinh tại từng lần trao đổi. Điều này có nghĩa là tài sản thuần của công ty con được xác định tại từng lần trao đổi và không yêu cầu đánh giá lại giá trị khoản đầu tư của công ty mẹ trong những lần trước đó theo giá trị hợp lý tại ngày kiểm soát.
- Tóm lại, IFRS 3 và VAS 11 có sự khác biệt về việc tính lợi thế thương mại khi mua công ty con và xác định giá trị tài sản thuần của công ty con trong các giao dịch hợp nhất kinh doanh qua nhiều giai đoạn.
2.2. Lợi ích cổ đông không kiểm soát
3. Một số giao dịch khác
- Một số giao dịch chưa có căn cứ ghi nhận do VAS thiếu các Chuẩn mực quy định, ví dụ như:
- Chưa có căn cứ để ghi nhận các giao dịch thanh toán trên cơ sở cổ phiếu, khoản phúc lợi cho người lao động.
- Các tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp hiện nay đang phải ghi nhận và trình bày cùng với hàng tồn kho hoặc Tài sản cố định mà chưa được ghi nhận riêng.
VI. Quy định về Báo cáo tài chính
1. Đồng tiền chức năng
Tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IAS 21) có quy định rõ về đồng tiền chức năng và phân biệt đồng tiền này với đồng tiền báo cáo. Về bản chất, đồng tiền chức năng là đồng tiền được sử dụng trong ghi sổ kế toán. Tiêu chuẩn kế toán Việt Nam (VAS) có đề cập đến điều này, tuy nhiên, VAS chưa làm rõ được sự khác biệt giữa đồng tiền chức năng và đồng tiền báo cáo.
2. Xác định mối quan hệ giữa nhà đầu tư và bên được đầu tư
3. Báo cáo thu nhập toàn diện khác (OCI)
- Các khoản đánh giá lại Tài sản cố định khi áp dụng mô hình đánh giá lại.
- Chênh lệch tỷ giá do chuyển đổi từ đồng tiền chức năng sang đồng tiền báo cáo.
- Lãi và lỗ ghi nhận trong chương trình phúc lợi cho nhân viên với lợi ích được xác định.
- Lãi và lỗ từ việc xác định lại giá trị của các tài sản tài chính sẵn sàng để bán.
- Phần lãi và lỗ hiệu quả của các công cụ phòng ngừa rủi ro trong phòng ngừa rủi ro dòng tiền.
4. Báo cáo biến động vốn chủ sở hữu
5. Trình bày tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch chưa qua chế biến, tài sản dài hạn nắm giữ để bán
6. Báo cáo tài chính trong nền kinh tế siêu lạm phát
Nguồn: https://vietaustralia.com/vn/nhung-quy-dinh-vas-con-thieu-so-voi-ifrs.html
