Quy định về tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân

Công ty Kế toán AGS Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực tư vấn và cung cấp dịch vụ Kế toán, Kiểm toán, Thuế, Tư vấn quản lý, chuyển đổi và tái cơ cấu doanh nghiệp.= Trong bài viết này công ty AGS sẽ chia sẻ về chủ đề Quy định về tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân.= Bài viết dành cho các người lao động đang muốn tìm hiểu về các quy định liên quan đến tài sản. AGS muốn chia sẻ về chủ đề này bởi vì mong muốn bảo vệ quyền lợi của người lao động, tránh các rủi ro pháp lý liên quan. Cùng tìm hiểu kĩ hơn về chủ đề này qua bài viết dưới đây nhé.

I. Các nhóm tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân

I. Các nhóm tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân
Theo quy định tại Nghị định số 77/2025/NĐ-CP, tài sản được xác định quyền sở hữu toàn dân bao gồm:
- Tài sản bị tịch thu theo quy định của pháp luật: Tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu; Vật chứng vụ án, tài sản khác bị tịch thu theo quy định của pháp luật về hình sự, pháp luật về tố tụng hình sự. - Bất động sản vô chủ: Bất động sản không xác định được chủ sở hữu theo quy định của pháp luật về dân sự; Bất động sản mà chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của pháp luật về dân sự. - Tài sản bị đánh rơi, bỏ quên: Tài sản bị đánh rơi, bỏ quên không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận theo quy định của pháp luật về dân sự. - Tài sản là di sản của người thừa kế: Tài sản không có người nhận thừa kế theo quy định tại Điều 622 Bộ luật Dân sự; Tài sản hết thời hiệu yêu cầu chia di sản kể từ thời điểm mở thừa kế nhưng không có người chiếm hữu theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự; Phần quyền sở hữu bất động sản khi một trong các chủ sở hữu chung đối với bất động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế theo quy định tại khoản 4 Điều 218 Bộ luật Dân sự. - Tài sản là hàng hóa tồn đọng được lưu giữ lại khu vực cảng, kho, bãi thuộc địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan (hàng hóa tồn đọng thuộc địa bàn hoạt động hải quan). - Tài sản do chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước Việt Nam không thuộc trường hợp quy định tại các điểm d, đ, e, g, i và k khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 1 Nghị định này.
  • Việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho Nhà nước Việt Nam được thực hiện thông qua bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương (bộ, cơ quan trung ương) hoặc chính quyền địa phương.
  • Trường hợp khi chuyển giao đã xác định cụ thể cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận; nếu cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận thuộc trung ương quản lý thì được xác định là chuyển giao thông qua bộ, cơ quan trung ương; nếu cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận thuộc địa phương quản lý thì được xác định là chuyển giao thông qua chính quyền địa phương.
  • Đối với tài sản do các chuyên gia, nhà thầu, tư vấn nước ngoài chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam mà không xác định cụ thể cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận, nếu dự án do trung ương quản lý thì được xác định là chuyển giao thông qua bộ, cơ quan trung ương; nếu dự án do địa phương quản lý thì được xác định là chuyển giao thông qua chính quyền địa phương.
- Tài sản do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước Việt Nam theo cam kết sau khi kết thúc thời hạn hoạt động. - Tài sản được đầu tư theo phương thức đối tác công tư được chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam theo hợp đồng dự án: Tài sản được chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam theo Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT), Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (BTO), Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ (BTL), Hợp đồng Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao (BLT). - Tài sản bị chôn giấu, bị vùi dập, chìm đắm: Tài sản được phát hiện hoặc tìm thấy thuộc đất liền, các hải đảo và vùng biển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền và quyền tài phán tại thời điểm phát hiện hoặc tìm thấy không có hoặc không xác định được chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

II. Việc xác lập quyền được thực hiện công khai, minh bạch

Theo quy định tại Nghị định này, việc xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản phải được lập thành văn bản; bảo đảm trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật trên cơ sở bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, tôn trọng quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức liên quan. Mọi hành vi vi phạm phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Việc xử lý tài sản được xác lập quyền được lập thành phương án và được cơ quan, người có thẩm quyền quyết định phê duyệt phương án xử lý. Về phương án xử lý tài sản được xác lập quyền và quyết định phê duyệt phương án xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân được quy định tại Nghị định này.

III. Trình tự xác lập quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản

Việc xác lập quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản không được thực hiện một cách tự động mà phải tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Tùy thuộc vào nguồn gốc, tính chất và loại tài sản, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ thực hiện việc xác định tài sản thuộc trường hợp phải xác lập quyền sở hữu toàn dân.

Trước hết, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có liên quan cần xác định rõ nguồn gốc tài sản, tình trạng pháp lý và căn cứ để tài sản thuộc diện xác lập quyền sở hữu toàn dân. Việc xác định này có ý nghĩa quan trọng nhằm tránh trường hợp tài sản vẫn còn chủ sở hữu hoặc người có quyền, lợi ích hợp pháp nhưng bị xác định nhầm là tài sản thuộc sở hữu toàn dân.

Sau khi có căn cứ xác định, việc xác lập quyền sở hữu toàn dân phải được lập thành văn bản theo quy định. Hồ sơ, tài liệu liên quan đến tài sản cần được kiểm tra và lưu giữ để làm cơ sở cho các bước quản lý, xử lý tiếp theo.

Đối với từng nhóm tài sản, cơ quan có thẩm quyền có thể phải thực hiện các thủ tục khác nhau. Chẳng hạn, đối với tài sản bị tịch thu, cần căn cứ vào quyết định tịch thu có hiệu lực pháp luật. Đối với tài sản bị đánh rơi, bỏ quên hoặc tài sản không xác định được chủ sở hữu, cần thực hiện các thủ tục xác minh, thông báo và xử lý theo quy định của pháp luật dân sự trước khi xác lập quyền sở hữu toàn dân.

Việc quy định trình tự cụ thể nhằm bảo đảm rằng quyền sở hữu của Nhà nước chỉ được xác lập khi có đầy đủ căn cứ pháp lý, đồng thời hạn chế tranh chấp có thể phát sinh sau này.

IV. Xử lý tài sản sau khi được xác lập quyền sở hữu toàn dân

Sau khi quyền sở hữu toàn dân được xác lập, tài sản không có nghĩa là được cơ quan nhà nước sử dụng tùy ý. Tài sản phải được quản lý, bảo quản và xử lý theo đúng quy định pháp luật.

Tùy thuộc vào đặc điểm của từng loại tài sản, phương án xử lý có thể bao gồm việc giao tài sản cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng; bán tài sản; điều chuyển hoặc thực hiện các hình thức xử lý khác theo quy định.

Đối với tài sản có thể đưa vào sử dụng cho hoạt động quản lý nhà nước hoặc hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, việc tiếp nhận và sử dụng tài sản cần được thực hiện đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức và thẩm quyền.

Đối với tài sản được xử lý thông qua hình thức bán, quá trình xử lý cần bảo đảm công khai, minh bạch và tuân thủ các quy định có liên quan. Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản được quản lý và thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và các quy định pháp luật có liên quan.

Việc lập phương án xử lý tài sản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Phương án cần xác định rõ loại tài sản, số lượng, giá trị, hình thức xử lý, cơ quan thực hiện và các nội dung cần thiết khác. Sau đó, phương án phải được cơ quan hoặc người có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định.

Như vậy, quá trình xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân bao gồm nhiều bước liên tiếp, từ xác định nguồn gốc, xác lập quyền sở hữu, quản lý tài sản cho đến quyết định phương án xử lý. Mỗi bước đều cần được thực hiện đúng thẩm quyền nhằm bảo đảm hiệu quả quản lý tài sản công.

V. Một số trường hợp tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân cần lưu ý

Trong thực tế, tài sản thuộc diện xác lập quyền sở hữu toàn dân có thể phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau. Vì vậy, việc xác định đúng trường hợp là vấn đề quan trọng đối với cá nhân, tổ chức và cơ quan nhà nước có liên quan.

Đối với tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, việc tài sản được tìm thấy không đồng nghĩa ngay lập tức với việc tài sản thuộc sở hữu toàn dân. Cần xác định chủ sở hữu hoặc người có quyền đối với tài sản và thực hiện các thủ tục cần thiết theo quy định. Chỉ khi đáp ứng điều kiện pháp luật thì tài sản mới được xác lập quyền sở hữu toàn dân.

Đối với tài sản là di sản không có người thừa kế, cần phân biệt giữa trường hợp không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật dân sự. Việc xác định tài sản thuộc quyền sở hữu toàn dân cần dựa trên căn cứ pháp lý cụ thể thay vì chỉ dựa vào việc chưa có người nhận tài sản.

Đối với tài sản bị tịch thu, quyết định tịch thu phải được ban hành bởi cơ quan hoặc người có thẩm quyền theo quy định pháp luật. Đây là căn cứ quan trọng để xác định việc chuyển tài sản sang sở hữu toàn dân.

Ngoài ra, đối với hàng hóa tồn đọng trong khu vực cảng, kho, bãi thuộc địa bàn hoạt động hải quan, việc xử lý cần tuân thủ đồng thời các quy định về hải quan và quản lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân. Đây là nhóm tài sản có tính chất đặc thù do liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu và quản lý hàng hóa tại khu vực hải quan.

Đối với tài sản được chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam, việc chuyển giao cũng cần được thực hiện theo đúng trình tự và thông qua cơ quan có thẩm quyền. Việc chuyển giao tự nguyện cần được ghi nhận rõ ràng để xác định quyền và trách nhiệm của các bên liên quan.

VI. Ý nghĩa của quy định về tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân

Các quy định về xác lập quyền sở hữu toàn dân có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm tài sản không có chủ sở hữu hoặc tài sản được chuyển giao cho Nhà nước được quản lý thống nhất và đúng pháp luật.

Trước hết, quy định này tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước tiếp nhận và quản lý các loại tài sản mà pháp luật xác định thuộc sở hữu toàn dân. Thông qua đó, hạn chế tình trạng tài sản bị bỏ không, sử dụng không đúng mục đích hoặc không được quản lý đầy đủ.

Bên cạnh đó, việc quy định rõ trình tự, thẩm quyền và phương án xử lý tài sản cũng góp phần tăng tính công khai, minh bạch trong quản lý tài sản. Các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan có cơ sở để biết quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong quá trình xác lập và xử lý tài sản.

Đối với cá nhân, việc hiểu rõ các quy định này cũng giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong trường hợp phát hiện tài sản bị đánh rơi, bỏ quên hoặc có liên quan đến di sản, cá nhân cần thực hiện đúng quy định thay vì tự ý chiếm hữu hoặc định đoạt tài sản.

Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, xây dựng và đầu tư theo phương thức đối tác công tư, việc nắm được quy định về tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân cũng giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong quá trình thực hiện hợp đồng và bàn giao tài sản cho Nhà nước.

Có thể thấy, việc xác lập quyền sở hữu toàn dân không chỉ là vấn đề liên quan đến quản lý tài sản nhà nước mà còn có mối liên hệ với quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp. Do đó, việc thực hiện đúng trình tự, thủ tục và xác định chính xác căn cứ pháp lý là yếu tố cần thiết để hạn chế tranh chấp và rủi ro pháp lý.

Trong quá trình quản lý hoặc xử lý tài sản thuộc các trường hợp nêu trên, cá nhân và tổ chức nên chủ động kiểm tra các quy định pháp luật hiện hành, xác định đúng cơ quan có thẩm quyền và chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan. Điều này giúp bảo đảm việc xác lập, quản lý và xử lý tài sản được thực hiện đúng quy định, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.

Công ty AGS cảm ơn bạn đã dành thời gian để đọc bài viết này. Hy vọng bạn đã có được những thông tin bổ ích. Hãy tiếp tục theo dõi chúng tôi để cập nhật thêm nhiều thông tin cũng như cơ hội việc làm tại AGS nhé.
Nguồn: https://baophapluat.vn/quy-dinh-moi-nhat-ve-tai-san-duoc-xac-lap-quyen-so-huu-toan-dan-post544799.html

Thông tin khác

Next Post Previous Post