Lịch sử hình thành và phát triển ngành Kế toán

 Trong thời đại ngày nay, chúng ta không còn xa lạ với "Kế toán" nữa, muốn thành lập một công ty thì ắc hẳn không thể thiếu kế toán. Vậy tại vì sao lại có nền móng ngành kế toán, nó nghĩa là gì và họ sẽ làm được những gì cho chúng ta. Dưới đây AGS sẽ chia sẻ với bạn tổng quan về lịch sử hình thành và phát triển của ngành kế toán cùng với vai trò quan trọng không thể thiếu của nó nhé. 

1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngành kế toán:

 Có thể chia lịch sử hình thành thành 4 mốc thời gian khác nhau tương ứng với từng thời kì.

  1.1. Thời nguyên thủy - Khởi nguồn cho kế toán thế giới:

        Trong thời kì này, hoạt động trao đổi mua bán diễn ra sôi nổi và nhanh chóng tại vùng đất Mesopotamia vùng thung lũng màu mỡ với dân cư đông đúc và thịnh vượng. Ngày ngày giao thương giữa các vùng thượng lưu và hạ lưu hai bên dòng sông, những người kinh doanh tại đây đã liệt kê thứ tự các khoản chi phí, hàng hóa bằng hiện vật tượng trưng như là đất sét hay các vật nhỏ để dễ dàng cho việc ghi nhớ. Vào khoảng 3300 đến 3200 TCN, tại vùng đất Ai Cập cổ đại, con người phát minh ra các con số và chữ viết, các ghi chép về kế toán cũng từ đó phát triển rộng rãi. Người ta ghi chép lại tất cả những gì phát sinh như tiền công đã trả cho thợ, số lượng hàng hóa nhập vào, số lượng gia súc nhằm quản lí một cách chặt chẽ nhất. 

1.2. Dấu mốc quan trọng "Kế toán kép ra đời":

      Vào cuối thế kỉ thứ 14, đây được xem là dấu mốc đánh dấu cho sự ra đời và phát triển của kế toán kép. Năm 1494, Luca Pacioli nhà toán học người Ý đầu tiên cho xuất bản tài liệu chi tiết về hệ thống kế toán kép. Trong cuốn tài liệu ông ghi chép về sổ cái, nhật kí và cách ghi chép nợ có trong kế toán. Hầu hết toàn bộ những nguyên tắc của ông đều được sử dụng cho đến ngày nay. Có thể nói Luca Pacioli là cha đẻ của ngành kế toán với câu nói huyền thoại "A person should not go to sleep at night untill the debits equal the credits."

1.3. Sự bùng nổ của công nghệ:

      Cuối thế kỷ 19, sự vươn mình về sản xuất ở các nước phát triển đã ở quy mô rất lớn, ngày càng có nhiều tài sản được đưa vào sản xuất, chính vì thế mà cần được quản lí, phản ánh một cách hợp lí. Thời kì này bắt đầu xuất hiện nhiều hình thái kinh doanh vô cùng đa dạng và phong phú, có thể lấy ví dụ như cơ sở kinh doanh sỡ hữu cá nhận, công ty có hai thành viên, công ty liên doanh, liên kết, ....Kế toán cũng vì thế mà phát triển để có thể đáp ứng được những yêu cầu để ghi nhận cho các loại hình doanh nghiệp. Việc hình thành nhiều loại hình doanh nghiệp đã kiến cho Chính phủ phải có những chính sách và hệ thống kế toán mới áp dụng đối với từng loại hình kinh doanh cụ thể. 

      Những năm 1960, sự phát triển mạnh mẽ của những công ty cổ phần bắt nguồn từ nước Anh đã kiến cho ngành kế toán được phát triển vượt bậc, các nhà đầu tư yêu cầu minh bạch thông tin và muốn có thể nắm bắt được tình hình tài chính cũng như các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đã đưa kế toán trở thành hoặc động chủ chốt và không thể thiếu trong các bộ phận của công ty. Bắt nguồn từ đây mà ngành kế toán được cụ thể hơn và phân chia thành hai mảng chính là kế toán quản trị và kế toán tài chính.

      Tới những năm 1988, Bill Gates đã nghiên cứu và giới thiệu bộ phần mềm văn phòng Microsoft Office. Hai năm sau đó, vào năm 1990 thì bộ phần mềm này được đưa vào sử dụng và chính thức đánh dấu bước chuyển mình của ngành kế toán trong việc hội nhập với sự phát triển về công nghệ. Nhờ có bộ phần mềm này mà công tác ghi chép tính toán sổ sách diễn ra nhanh chóng và chuẩn xác hơn. Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều được ghi nhận lại trên ứng dụng Excel, sử dụng hàm có sẵn trong công cụ này để tính toán vô cùng tiện lợi, nhanh chóng và cho ra kết quả chuẩn xác.

      Có thể thấy đến cho tận ngày nay, ngành kế toán đã chứng kiến biết bao cuộc cách mạng cải tiến mới khi các công ty liên tục cho ra nhiều phần mềm kế toán, thay thế cho việc nhập liệu thủ công kiến cho mọi hoạt động kế toán ghi chép và tính toán trở nên nhanh chóng và chuẩn xác hơn bao giờ hết. Người kế toán chỉ việc nhập liệu và phần mềm, không cần phải tính toán và nhập các hàm thao tác như trên công cụ excel như trước.

1.4. Hội nhập quốc tế ngành Kế toán, sự ra đời của IAS và IFRS:

      Vào cuối thể kỉ thứ 19, sự hội nhập giao thương giữa các nước diễn ra vô cùng náo nhiệt và mạnh mẽ. Kế toán không còn là giới hạn biên giới của một quốc gia mà còn là của chung cho toàn thế giới, cần có một ngôn ngữ chung về ngành kế toán. Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự ra đời của các Chuẩn mực kế toán quốc tế và Chuẩn mực về báo cáo tài chính quốc tế. Chuẩn mực kế toán được hiểu nôm na là tập hợp các nguyên tắc, tiêu chuẩn và các yêu cầu cơ bản về chính sách và thông lệ kế toán tài chính. Việc xây dựng một bộ chuẩn mực chung IAS, IFRS là hết sức cần thiết để tiết kiệm nguồn lực của xã hội và tăng tính minh bạch về thông tin.

2. Lịch sử hình thành kế toán tại Việt Nam:

   Từ những năm 1954 trở về trước: Tại Việt Nam thì giai đoạn này kế toán đang còn ghi chép đơn giản về liệt kê các tài sản, giúp cho người sỡ hữu tài sản nắm được tình hình tài sản của mình. Pháp vào thời kì này đã cho xây dựng các đồn điền, nhà máy và có sử dụng đến kế toán, khi đó thì ngành kế toán mới được du nhập vào Việt Nam. 

   Từ 1954- 1975: Đất nước ta bị chia cắt thành hai miền Nam- Bắc và cả hai miền đều sử dụng hai nền móng hệ thống kế toán khác nhau từ hai nước Liên Xô và Mỹ. 

   Từ 1976- 1994: Sau khi hai miền Nam- Bắc đã thống nhất, hệ thống kế toán của Liên Xô theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung là hệ thống kế toán được lựa chọn và áp dụng ở Việt Nam. Năm 1988 lần đầu tiên các tư tưởng, quan điểm và nguyên tắc của kế toán Việt Nam được Luật hóa một cách cơ bản trong "Pháp lệnh kế toán và thống kê", là tiền đề cho sự ra đời của Luật kế toán đầu tiên tại Việt Nam.

   Năm 1995 đến ngày nay: Vào năm 1995 đánh dấu cho điểm khởi đầu của thời kì đổi mới, mở cửa nền kinh tế đất nước. Chính vì cơ chế kinh tế mới của nền kinh tế thị trường đòi hỏi hệ thống kế toán của Việt Nam phải cải cách toàn bộ cả về doanh nghiệp lẫn Nhà nước. Đảm bảo dựa trên các nguyên tắc sau:

     - Thỏa mãn yêu cầu của kinh tế thị trường.

     - Vận dụng có chọn lọc chuẩn mực kế toán quốc tế.

     - Đảm bảo phù hợp các nguyên tắc, thông lệ kế toán phổ biến của các nước có nền kinh tế đang phát triển.

   Qua hơn 60 năm kể từ ngày ban hành chế độ kế toán đầu tiên thì hiện nay, Việt Nam đã có đầy đủ các thành tố của hệ thống pháp lí kế toán của một quốc gia gồm Luật kế toán, Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán.

3. Vai trò chủ chốt của ngành kế toán:

    Kế toán giữ vai trò chủ chốt trong hoạt động của mỗi doanh nghiệp, không chỉ đơn thuần là ghi chép số liệu mà còn là công cụ quản lý và định hướng phát triển. 

   Trước hết, kế toán cung cấp thông tin tài chính chính xác về doanh thu, chi phí và lợi nhuận, từ đó giúp nhà quản lý nắm rõ tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, kế toán còn hỗ trợ ra quyết định thông qua việc phân tích dữ liệu, giúp doanh nghiệp lựa chọn phương án kinh doanh hiệu quả. Ngoài ra, kế toán đóng vai trò kiểm soát và bảo vệ tài sản, phát hiện kịp thời các sai sót hoặc gian lận. Đồng thời, việc đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật về thuế và báo cáo tài chính cũng là một nhiệm vụ quan trọng của kế toán, giúp doanh nghiệp tránh rủi ro pháp lý. Không chỉ vậy, kế toán còn góp phần đánh giá hiệu quả hoạt động, nâng cao uy tín với đối tác và nhà đầu tư, cũng như hỗ trợ lập kế hoạch và dự báo tài chính trong tương lai.

    Tóm lại, kế toán chính là bộ phận trung tâm giúp doanh nghiệp vận hành minh bạch, hiệu quả và phát triển bền vững.


Trên đây là toàn bộ những thông tin mà AGS đã cung cấp, cảm ơn bạn đã giành thời gian đọc mong sẽ giúp ích được cho bạn. Hãy theo dõi chúng tôi để biết thêm nhiều thông tin bổ ích.

Thông tin khác

Nguồn: Tổng hợp
Previous Post