Giải đáp thắc mắc cho NLĐ về Bảo hiểm thất nghiệp.

Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ hỗ trợ dành cho người lao động khi mất việc làm, nhằm giúp ổn định tài chính trong thời gian chưa tìm được công việc mới. Khi tham gia BHTN đầy đủ, người lao động có thể được hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng, hỗ trợ tư vấn – giới thiệu việc làm và hỗ trợ học nghề theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, để được nhận trợ cấp thất nghiệp, người lao động cần đáp ứng đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm. Đây được xem là quyền lợi quan trọng giúp người lao động giảm bớt áp lực tài chính khi gián đoạn công việc.

1. Hồ sơ, thủ tục cần có để hưởng bảo hiểm thất nghiệp:

1.1. Hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp:

- Theo quy định tại Điều 16 Nghị định 28/2015/NĐ-CP, hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp bao gồm:
 + Đơn đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp.
 + Bản chính hoặc bản sao có chứng thực của một trong các giấy tờ xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
 + Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã hết hạn hoặc đã hoàn thành công việc theo hợp đồng.
 + Quyết định thôi việc.
 + Quyết định sa thải.
 + Quyết định kỷ luật buộc thôi việc.
 + Thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
 + Sổ bảo hiểm xã hội.
 + Khi đi hưởng bảo hiểm thất nghiệp, cá nhân người được hưởng cần đem theo chứng minh nhân dân hoặc CCCD để đối chiếu. 
Căn cước công dân gắn chip

1.2. Thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp:

Sau khi có đủ hồ sơ, người lao động thực hiện theo trình tự sau:

- Bước 1: Nộp hồ sơ tới trung tâm dịch vụ việc làm

 + Khoản 1 Điều 17 Nghị định 28 năm 2015 của Chính Phủ quy định: Trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động chưa có việc làm và có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp phải trực tiếp nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp cho trung tâm dịch vụ việc làm tại địa phương nơi muốn nhận trợ cấp (không phụ thuộc vào nơi đang ở hay nơi đang làm việc).
- Bước 2: Giải quyết hồ sơ
 + Cũng theo Nghị định 28, cụ thể khoản 1 Điều 18, trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ sơ, người lao động chưa tìm được việc làm thì trung tâm giới thiệu việc làm thực hiện xác nhận giải quyết hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp.
 + Trong vòng 20 ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ sơ, trung tâm giới thiệu việc làm ra quyết định duyệt chi trả trợ cấp thất nghiệp kèm theo sổ bảo hiểm xã hội có xác nhận trả cho người lao động
 + Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16 theo ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp.
- Bước 3: Nhận tiền chi trả trợ cấp thất nghiệp
 + Trong trường hợp được nhận trợ cấp thất nghiệp, theo khoản 2 Điều 18, trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định chi trả trợ cấp thất nghiệp, cơ quan bảo hiểm xã hội tại địa phương thực hiện chi trả tiền trợ cấp tháng đầu tiên cho người lao động kèm theo thẻ bảo hiểm y tế.
Hàng tháng, cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả trợ cấp thất nghiệp trong vòng 12 ngày tính từ ngày hưởng trợ cấp thất nghiệp tháng đó nếu không nhận được quyết định tạm dừng, chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động.
- Sau khi nộp đủ hồ sơ theo quy định, người lao động quay lại trung tâm dịch vụ việc làm theo ngày ghi trên phiếu hẹn để nhận quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp và tiền trợ cấp tháng đầu tiên. Những tháng sau đó, người lao động phải đến trung tâm dịch vụ việc làm thực hiện thông báo tìm kiếm việc làm theo đúng quy định.
- Bước 4: Hàng tháng thông báo tìm kiếm việc làm
 + Khoản 1 Điều 19 Nghị định này còn quy định, hàng tháng người lao động phải đến trung tâm dịch vụ việc làm để thông báo về việc tìm kiếm việc làm trong thời gian đang hưởng trợ cấp thất nghiệp (theo đúng lịch hẹn kèm theo Quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp).
 + Với những thông tin nêu trên có thể thấy, để được nhận tiền bảo hiểm thất nghiệp nhanh nhất, người lao động nên chuẩn bị đủ hồ sơ và làm thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp như hướng dẫn ở trên.

- Ví dụ:
 + Ngày 01/01/2020, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm.

+ Ngày 20/01/2020, trung tâm dịch vụ việc làm ra Quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho người lao động.
+ Ngày bắt đầu tính hưởng trợ cấp thất nghiệp là ngày 16/01/2020.
+ Ngày chi trả trợ cấp thất nghiệp tháng đầu tiên: Từ 20/01 - 25/01/2020.
+ Ngày chi trả trợ cấp thất nghiệp tháng thứ 2: Từ 16/02 - 27/02/2020.
+ Ngày chi trả trợ cấp thất nghiệp tháng thứ 2: Từ 16/03 - 27/03/2020.
Bảo hiểm thất nghiệp

2.Cách tính mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng:

- Khoản 1 Điều 8 Thông tư số 28/2015/TT-BLĐTBXH quy định mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của người lao động được xác định như sau:

Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng = Mức lương bình quân của 06 tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi thất nghiệp x 60%

a)TH1: Trường hợp những tháng cuối cùng trước khi thất nghiệp, người lao động có thời gian gián đoạn đóng bảo hiểm thất nghiệp thì 06 tháng liền kề để tính mức hưởng trợ cấp thất nghiệp là bình quân tiền lương của 06 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật.
- Ví dụ 1: Bà  A ký hợp đồng lao động có thời hạn 24 tháng với trường E mức lương như sau: Từ ngày 01/9/2013 đến ngày 31/8/2014 là 2.000.000 đồng/tháng, từ ngày 01/09/2014 đến 31/8/2015 là 4.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, từ ngày 01/1/2015 đến ngày 30/6/2015, bà A nghỉ hưởng chế độ thai sản. Sau đó, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên bà không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động vì vậy bà A đã làm đơn xin nghỉ việc theo quy định của pháp luật lao động và ngày 01/7/2015 trường tiểu học E ban hành quyết định nghỉ việc cho bà A, quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký.
- Xử lí: Như vậy, mức tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ tính mức hưởng trợ cấp thất nghiệp của bà A là bình quân tiền lương của 06 tháng liền kề trước khi bà nghỉ việc mà có đóng bảo hiểm thất nghiệp (tháng 7, 8, 9, 10, 11, 12/2014). Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của bà A là (2.000.000 đồng x 2 tháng + 4.000.000 đồng x 4 tháng)/6 x 60% = 2.000.000 đồng/tháng.

b)TH2: Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của người lao động tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật Lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

Ví dụ 2: Ngày 01/01/2015, ông C ký hợp đồng lao động thời hạn 12 tháng với DN F mức lương là 70.000.000 đồng/tháng. DN F hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I, áp dụng mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Chính phủ là 3.100.000 đồng/tháng. Do đó, mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của ông C là: 20 lần x 3.100.000 đồng = 62.000.000 đồng/tháng.

Ngày 28/9/2015, ông C chấm dứt hợp đồng lao động với DN F chuyển sang ký HĐLĐ thời hạn 03 tháng với DN G (từ ngày 01/10/2015 đến 31/12/2015) với mức lương là 80.000.000 đồng/tháng. Doanh nghiệp G có trụ sở chính hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV, áp dụng mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Chính phủ là 2.150.000 đồng/tháng nhưng ông C không làm việc tại trụ sở chính mà làm việc tại chi nhánh, chi nhánh này hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III, áp dụng mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Chính phủ là 2.400.000 đồng/tháng. Do đó, ông C tham gia và đóng bảo hiểm thất nghiệp tại tổ chức bảo hiểm xã hội nơi chi nhánh hoạt động với mức lương là: 20 lần x 2.400.000 đồng = 48.000.000 đồng/tháng. Hết hạn hợp đồng lao động với doanh nghiệp G, ông C nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Xử lí: Như vậy, 60% mức tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề trước khi ông C chấm dứt hợp đồng lao động là: (62.000.000 đồng x 3 tháng + 48.000.000 đồng x 3 tháng)/6 x 60% = 33.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo quy định thì mức hưởng trợ cấp thất nghiệp của ông C tối đa không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm ông chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của ông C là 12.000.000 đồng/tháng (2.400.000 đồng x 5 lần = 12.000.000 đồng/tháng)".

- Cách tính tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp: "Tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo tháng dương lịch. Mỗi tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày người lao động bắt đầu hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại Khoản 3 Điều 50 Luật Việc làm đến ngày đó của tháng sau trừ 01 ngày.

3. Lãnh bảo hiểm thất nghiệp khác tỉnh cư trú có được không?

- Trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày có quyết định thôi việc mà người lao động chưa tìm được việc làm và có mong muốn hưởng sẽ chuẩn bị hồ sơ theo quy định và nộp hồ sơ này đến Trung tâm dịch vụ việc làm nơi mà họ muốn nhận trợ cấp thất nghiệp. Khi người lao động nghỉ việc có đủ các điều kiện tại Điều 49 Luật việc làm 2013 và có mong muốn lãnh bảo hiểm thất nghiệp thì họ có thể nộp hồ sơ hưởng ở bất kỳ trung tâm dịch vụ việc làm nào mà họ mong muốn, bao gồm cả các Trung tâm dịch vụ việc làm khác với tỉnh nơi mình đang cư trú.
- Tuy nhiên, người lao động nên xem xét thật kỹ để lựa chọn nơi giải quyết hồ sơ và họ nên chọn làm hồ sơ ở những tỉnh lớn do có nhiều văn phòng của Trung tâm dịch vụ việc làm để mình lựa chọn và không bị quá tải lượng hồ sơ, giúp cho việc giải quyết chế độ của mình nhanh chóng hơn.
- Sau thời hạn 03 tháng từ ngày người lao động hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng không đến nhận tiền trợ cấp và không thông báo bằng văn bản với cơ quan BHXH nơi đang hưởng thì lao động đó được xác định là không có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp.
- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tương ứng với số tiền trợ cấp thất nghiệp mà người lao động không đến nhận được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng tiếp theo khi đủ điều kiện hưởng theo quy định. 

4. Nghỉ ngang có được bảo lưu bảo hiểm thất nghiệp không?

- Nghỉ việc ngang là việc người lao động tự ý nghỉ việc khi không có lý do hoặc lý do không chính đáng, không thông báo cho người sử dụng lao động biết trước 30 ngày đối với hợp đồng xác định thời hạn hoặc 45 ngày đối với hợp đồng không xác định thời hạn. Khi đó, trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật sẽ bị xem là nghỉ ngang.
- Căn cứ Điều 49 Luật việc làm 2013 có thể thấy rằng, những trường hợp người lao động nghỉ việc ngang (đơn phương chấm dứt hợp đồng trái quy định pháp luật) thì sẽ không đủ điều kiện để hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật, thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ được cộng dồn và bảo lưu cho thời gian tiếp theo khi người lao động đáp ứng đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Nghỉ việc, thôi việc
- Nếu bạn đang trong hoàn cảnh buộc phải nghỉ ngang – hãy chủ động liên hệ người sử dụng lao động để được xác nhận chấm dứt hợp đồng đúng luật. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm thất nghiệp của bạn tốt hơn.
Nguồn: Điều kiện và mức hưởng BHTN- EFY
https://baohiemxahoidientu.vn/bhxh/dieu-kien-va-muc-huong-bao-hiem-that-nghiep.html

Thông tin khác

Next Post Previous Post