Mức trợ cấp tai nạn lao động 1 lần từ 01/07/2026 bao nhiêu ?

Từ ngày 01/7/2026, mức lương cơ sở được điều chỉnh lên 2.530.000 đồng/tháng. Theo đó, mức trợ cấp một lần đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cũng được tính theo mức lương cơ sở mới. Trường hợp người lao động bị suy giảm 5% khả năng lao động sẽ được hưởng phần trợ cấp theo mức lương cơ sở là 12.650.000 đồng. Ngoài khoản này, người lao động còn có thể được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Vậy quy định cụ thể từ ngày 01/7/2026 như thế nào?

Trợ cấp tai nạn lao động 1 lần từ 1/7/2026


I. Trợ cấp một lần khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là gì?

Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp có thể làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, khả năng làm việc và thu nhập của người lao động. Để bảo đảm quyền lợi cho người lao động khi xảy ra những trường hợp này, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động quy định các chế độ hỗ trợ, trong đó có trợ cấp một lần khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Căn cứ Điều 48 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp một lần.

Như vậy, không phải mọi trường hợp bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp đều được hưởng trợ cấp một lần. Điều kiện quan trọng để xác định chế độ này là người lao động phải được xác định mức suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% theo quy định.

Mức trợ cấp được tính dựa trên hai phần:

  1. Khoản trợ cấp tính theo mức lương cơ sở, căn cứ vào tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.
  2. Khoản trợ cấp tính theo thời gian đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, căn cứ vào số năm đã đóng quỹ và tiền lương làm căn cứ đóng của tháng liền kề trước tháng bị tai nạn lao động hoặc tháng được xác định mắc bệnh nghề nghiệp.

Do đó, khi tính quyền lợi thực tế, cần xem xét đầy đủ cả hai khoản nêu trên thay vì chỉ tính khoản trợ cấp theo mức lương cơ sở.

II. Mức trợ cấp một lần khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ 01/7/2026

1. Mức lương cơ sở từ ngày 01/7/2026

Một trong những căn cứ quan trọng để tính trợ cấp một lần là mức lương cơ sở.

Theo Điều 3 Nghị định 161/2026/NĐ-CP, từ ngày 01/7/2026, mức lương cơ sở là 2.530.000 đồng/tháng. Mức lương cơ sở này được sử dụng làm căn cứ để tính các khoản tiền và chế độ được hưởng theo quy định pháp luật.

Việc mức lương cơ sở tăng từ 2.340.000 đồng/tháng lên 2.530.000 đồng/tháng từ ngày 01/7/2026 làm thay đổi mức trợ cấp một lần tính theo lương cơ sở đối với người lao động thuộc trường hợp được hưởng.

2. Suy giảm 5% khả năng lao động được hưởng bao nhiêu?

Khoản 2 Điều 48 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định:

  • Suy giảm 5% khả năng lao động: được hưởng 5 lần mức lương cơ sở.
  • Sau đó, cứ suy giảm thêm 1% khả năng lao động thì được hưởng thêm 0,5 lần mức lương cơ sở.

Với mức lương cơ sở từ ngày 01/7/2026 là 2.530.000 đồng/tháng, khoản trợ cấp tương ứng với mức suy giảm 5% được tính:

5 × 2.530.000 = 12.650.000 đồng

Như vậy, người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và được xác định suy giảm 5% khả năng lao động sẽ được hưởng 12.650.000 đồng theo phần trợ cấp tính bằng mức lương cơ sở.

Đây là mức được tính theo điểm a khoản 2 Điều 48 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.

3. Cứ suy giảm thêm 1% được hưởng thêm bao nhiêu?

Theo quy định, sau mức suy giảm 5%, cứ tăng thêm 1% suy giảm khả năng lao động thì người lao động được hưởng thêm 0,5 lần mức lương cơ sở.

Từ ngày 01/7/2026:

0,5 × 2.530.000 = 1.265.000 đồng

Do đó, mỗi 1% suy giảm khả năng lao động tăng thêm sẽ tương ứng với 1.265.000 đồng trong phần trợ cấp tính theo mức lương cơ sở.

Có thể khái quát như sau:

Mức suy giảm khả năng lao độngPhần trợ cấp theo mức lương cơ sở
5%12.650.000 đồng
6%13.915.000 đồng
7%15.180.000 đồng
8%16.445.000 đồng
9%17.710.000 đồng
10%18.975.000 đồng
15%25.300.000 đồng
20%31.625.000 đồng
25%37.950.000 đồng
30%44.275.000 đồng

Lưu ý, các mức trên mới thể hiện phần trợ cấp theo mức lương cơ sở. Người lao động còn có thể được hưởng khoản trợ cấp bổ sung được tính theo thời gian đã đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

III. Cách tính đầy đủ trợ cấp một lần khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Khoản trợ cấp theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động

Theo điểm a khoản 2 Điều 48 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, mức trợ cấp được xác định theo công thức:

Trợ cấp theo lương cơ sở = 5 × Mức lương cơ sở + (Tỷ lệ suy giảm - 5) × 0,5 × Mức lương cơ sở

Áp dụng mức lương cơ sở 2.530.000 đồng từ ngày 01/7/2026:

Trợ cấp = 5 × 2.530.000 + (Tỷ lệ suy giảm - 5) × 1.265.000

Ví dụ, người lao động bị suy giảm 10% khả năng lao động:

5 × 2.530.000 + 5 × 1.265.000 = 18.975.000 đồng

Như vậy, phần trợ cấp tính theo mức lương cơ sở là 18.975.000 đồng.

2. Khoản trợ cấp theo thời gian đóng quỹ

Ngoài khoản trợ cấp nêu trên, điểm b khoản 2 Điều 48 còn quy định người lao động được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Cụ thể:

  • Thời gian đóng quỹ từ 01 năm trở xuống: được tính bằng 0,5 tháng tiền lương.
  • Sau đó, cứ thêm 01 năm đóng quỹ thì được tính thêm 0,3 tháng tiền lương đóng vào quỹ của tháng liền kề trước tháng bị tai nạn lao động hoặc tháng được xác định mắc bệnh nghề nghiệp.

Như vậy, trợ cấp một lần không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ suy giảm khả năng lao động mà còn phụ thuộc vào thời gian tham gia đóng quỹ và tiền lương làm căn cứ tính khoản trợ cấp.

3. Trường hợp bị tai nạn ngay trong tháng đầu tham gia đóng quỹ

Luật cũng quy định trường hợp người lao động bị tai nạn lao động ngay trong tháng đầu tham gia đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Trong trường hợp này, tiền lương làm căn cứ tính khoản trợ cấp là tiền lương của chính tháng đó.

Quy định này nhằm xác định căn cứ tính trợ cấp đối với trường hợp người lao động chưa có đủ thời gian tham gia quỹ trước thời điểm xảy ra tai nạn.

Ngoài ra, trường hợp người lao động có thời gian tham gia bị gián đoạn và sau đó trở lại làm việc thì tiền lương làm căn cứ tính khoản trợ cấp cũng được xác định theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 48.

IV. Điều kiện hưởng trợ cấp một lần khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Mức suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30%

Điều kiện quan trọng nhất để hưởng trợ cấp một lần theo Điều 48 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 là người lao động phải bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30%.

Như vậy:

  • Suy giảm dưới 5%: không thuộc trường hợp hưởng trợ cấp một lần theo Điều 48.
  • Suy giảm từ 5% đến 30%: thuộc trường hợp hưởng trợ cấp một lần.
  • Suy giảm trên 30%: không áp dụng chế độ trợ cấp một lần theo Điều 48 mà thuộc trường hợp xem xét chế độ trợ cấp hằng tháng theo quy định pháp luật.

Để xác định tỷ lệ suy giảm khả năng lao động, người lao động bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp được thực hiện giám định theo quy định. Điều 47 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định về giám định mức suy giảm khả năng lao động, bao gồm giám định lần đầu, giám định lại và giám định tổng hợp trong các trường hợp luật định.

2. Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp phải thuộc trường hợp được pháp luật công nhận

Không phải mọi thương tích xảy ra trong quá trình làm việc đều đương nhiên được xác định là tai nạn lao động để hưởng chế độ.

Việc xác định tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và mức suy giảm khả năng lao động phải căn cứ vào hồ sơ, điều kiện thực tế và kết luận của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

Do đó, doanh nghiệp và người lao động cần lưu giữ đầy đủ hồ sơ liên quan đến vụ tai nạn, quá trình điều trị, hồ sơ giám định và các giấy tờ cần thiết để làm căn cứ giải quyết chế độ.

V. Khi nào người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động?

Bên cạnh chế độ trợ cấp từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 còn quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 40 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, có những trường hợp người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động khi bị tai nạn lao động. Cụ thể gồm:

1. Tai nạn do mâu thuẫn cá nhân

Người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động nếu tai nạn xảy ra do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.

Quy định này nhằm phân biệt tai nạn có liên quan đến quá trình thực hiện công việc với các sự việc phát sinh từ mâu thuẫn cá nhân, không liên quan đến nhiệm vụ lao động.

2. Người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe

Trường hợp tai nạn xảy ra do người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân thì không thuộc trường hợp được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động theo khoản 1 Điều 40.

3. Sử dụng ma túy hoặc chất gây nghiện trái quy định

Người lao động cũng không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động nếu tai nạn xảy ra do sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luật.

Như vậy, khi xem xét quyền lợi của người lao động, cần phân biệt giữa trợ cấp từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệptrách nhiệm bồi thường, trợ cấp của người sử dụng lao động. Đây là hai nội dung có căn cứ và cách tính khác nhau.

VI. Mức bồi thường, trợ cấp của người sử dụng lao động khi bị tai nạn lao động

Ngoài khoản trợ cấp một lần được tính theo Điều 48, người sử dụng lao động còn có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ theo Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.

1. Trường hợp tai nạn không hoàn toàn do lỗi của người lao động

Khoản 4 Điều 38 quy định người sử dụng lao động phải bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính người lao động gây ra và người lao động bị bệnh nghề nghiệp.

Mức bồi thường được quy định:

  • Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu người lao động bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động.
  • Sau đó, cứ tăng 1% suy giảm khả năng lao động thì được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 11% đến 80%.
  • Ít nhất bằng 30 tháng tiền lương đối với người lao động bị suy giảm từ 81% trở lên, hoặc thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Cần lưu ý, đây là khoản bồi thường do người sử dụng lao động thực hiện, khác với khoản trợ cấp một lần do cơ quan bảo hiểm giải quyết theo Điều 48.

2. Trường hợp tai nạn do lỗi của người lao động

Khoản 5 Điều 38 quy định trường hợp tai nạn lao động xảy ra do lỗi của chính người lao động, người sử dụng lao động vẫn phải trợ cấp cho người lao động một khoản tiền.

Mức trợ cấp ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 4 Điều 38, tương ứng với mức suy giảm khả năng lao động.

Điều này cho thấy việc xác định lỗi của người lao động có ảnh hưởng đến mức bồi thường hoặc trợ cấp từ người sử dụng lao động, nhưng cần phân biệt với chế độ trợ cấp một lần được tính theo Điều 48 của Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.

3. Ví dụ để phân biệt các khoản tiền

Giả sử người lao động bị tai nạn lao động và được xác định suy giảm 5% khả năng lao động từ ngày 01/7/2026.

Theo Điều 48, phần trợ cấp tính theo mức lương cơ sở là:

5 × 2.530.000 = 12.650.000 đồng.

Ngoài khoản 12.650.000 đồng, người lao động còn được tính thêm khoản trợ cấp dựa trên thời gian đã đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo điểm b khoản 2 Điều 48.

Nếu thuộc trường hợp người sử dụng lao động phải bồi thường theo khoản 4 Điều 38 thì mức bồi thường còn được xác định riêng dựa trên tiền lương và tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.

Vì vậy, không nên hiểu rằng 12.650.000 đồng là toàn bộ số tiền người lao động chắc chắn nhận được trong mọi trường hợp suy giảm 5%. Đây là khoản trợ cấp được tính theo mức lương cơ sở; tổng quyền lợi thực tế còn phụ thuộc vào thời gian đóng quỹ, tiền lương làm căn cứ và trách nhiệm của người sử dụng lao động trong từng trường hợp.

Kết luận

Từ ngày 01/7/2026, mức lương cơ sở được áp dụng là 2.530.000 đồng/tháng. Theo Điều 48 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động bị suy giảm từ 5% đến 30% khả năng lao động do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được hưởng trợ cấp một lần.

Đối với trường hợp suy giảm 5% khả năng lao động, phần trợ cấp tính theo mức lương cơ sở là:

5 × 2.530.000 = 12.650.000 đồng.

Sau đó, cứ suy giảm thêm 1% khả năng lao động, người lao động được hưởng thêm 0,5 lần mức lương cơ sở, tương đương 1.265.000 đồng từ ngày 01/7/2026.

Tuy nhiên, khi xác định tổng mức trợ cấp một lần, cần cộng thêm khoản trợ cấp được tính theo số năm đã đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Đồng thời, tùy trường hợp cụ thể, người sử dụng lao động còn có thể phải thực hiện trách nhiệm bồi thường hoặc trợ cấp theo Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.

Do đó, khi giải quyết chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, doanh nghiệp cần kiểm tra đầy đủ tỷ lệ suy giảm khả năng lao động, thời gian đóng quỹ, tiền lương làm căn cứ và trách nhiệm của người sử dụng lao động để bảo đảm tính đúng, tính đủ quyền lợi cho người lao động.

Nguồn:https://thuvienphapluat.vn/hoi-dap-phap-luat/muc-tro-cap-1-lan-khi-bi-tai-nan-lao-dong-benh-nghe-nghiep-tu-172026-la-bao-nhieu-138094892.html

Thông tin khác

Next Post Previous Post