Tổng hợp các bài viết pháp lý liên quan tới Luật Cạnh tranh

1. Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định hiện nay

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, việc bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trở thành yêu cầu cấp thiết. Một trong những nội dung quan trọng của pháp luật cạnh tranh hiện hành chính là quy định về các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. Đây là những hành vi được coi là gây tác động tiêu cực đến thị trường, làm méo mó cạnh tranh, ảnh hưởng đến quyền lợi của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Qua bài viết này, AGS sẽ phân tích khái niệm, căn cứ pháp lý và các dạng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định hiện nay.

2. Quy định về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền theo Luật Cạnh tranh 2018

Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền là hành vi của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh. Do vậy, bài viết dưới đây sẽ làm rõ định nghĩa chung; xác định đối tượng thống lĩnh thị trường và hành vi bị xem là lạm dụng vị trí thống lĩnh, từ đó cung cấp các quy định pháp luật có liên quan nhằm đảm bảo hoạt động cạnh tranh tại Việt Nam lành mạnh, an toàn.

3. Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và chế tài xử lý theo Luật Cạnh tranh 2018

Vị trí thống lĩnh thị trường phản ánh sức mạnh thị trường đáng kể của doanh nghiệp và có ý nghĩa đặc biệt trong việc kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh. Luật Cạnh tranh 2018 đã đưa ra các tiêu chí cụ thể để xác định doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, đồng thời quy định rõ các hành vi bị coi là lạm dụng vị trí này và chế tài xử lý tương ứng. Việc hiểu đúng và áp dụng chính xác các quy định liên quan không chỉ giúp doanh nghiệp tuân thủ pháp luật mà còn góp phần bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng trên thị trường.
Luật Cạnh tranh năm 2018 qui định rõ một số nhóm hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh. Tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về cạnh tranh có thể bị áp dụng một số biện pháp nhằm khắc phục hậu quả, trong đó có biện pháp phải chịu sự kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giá mua; giá bán hàng hóa, dịch vụ trong hợp đồng của DN hình thành sau tập trung kinh tế. Luật cũng đưa ra các ngưỡng để DN có nghĩa vụ, trách nhiệm phải thông báo về tập trung kinh tế, nhằm ngăn ngừa những yếu tố tiềm ẩn khi hình thành vị trí thống lĩnh hay độc quyền do các giao dịch mua bán sáp nhập DN mang lại.
Tập trung kinh tế là hiện tượng phổ biến trong quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp và phát triển thị trường, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, nếu không được kiểm soát phù hợp, tập trung kinh tế có thể dẫn đến việc hình thành hoặc gia tăng quyền lực thị trường, gây hạn chế cạnh tranh. Luật Cạnh tranh 2018 đã quy định cụ thể khái niệm, các hình thức tập trung kinh tế, tiêu chí đánh giá tác động tích cực cũng như nghĩa vụ thông báo tập trung kinh tế nhằm bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh và minh bạch.
Tố tụng cạnh tranh là cơ chế pháp lý đặc thù nhằm điều tra, xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh, đồng thời bảo đảm vai trò quản lý nhà nước trong việc duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh. Khác với tố tụng dân sự, kinh tế hay hành chính thuần túy, tố tụng cạnh tranh mang tính chất kết hợp giữa tố tụng hành chính và tố tụng tư pháp, với hệ thống cơ quan chuyên trách và trình tự, thủ tục riêng biệt. Luật Cạnh tranh 2018 đã quy định tương đối đầy đủ về nguyên tắc, chủ thể và các giai đoạn của tố tụng cạnh tranh, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, người tiêu dùng cũng như lợi ích công cộng trên thị trường.
Để chống lại các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh nhiều nước trên thế giới không chỉ quy định việc áp dụng các hình phạt đối với hành vi này, mà còn quy định về chính sách khoan hồng, theo đó, miễn hoặc giảm mức hình phạt đối với người cung cấp thông tin, chứng cứ cho cơ quan quản lý cạnh tranh về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. Tiếp thu kinh nghiệm pháp luật cạnh tranh thế giới, Việt Nam đã quy định về chính sách khoan hồng tại Điều 112 Luật Cạnh tranh năm 2018, tuy nhiên, tính khả thi của các chính sách này trên thực tế còn hạn chế. Thông qua việc nhận diện nội hàm và bản chất của chính sách khoan hồng, bài viết phân tích, so sánh về chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh của Việt Nam với một số nước, chỉ ra những vấn đề cần khắc phục để chính sách này thực thi hiệu quả trên thực tế.
Thỏa thuận không cạnh tranh được thực hiện để bảo vệ bí mật kinh doanh (BMKD) của người sử dụng lao động (NSDLĐ) khi người lao động (NLĐ) nghỉ việc. Tuy nhiên, việc áp dụng thỏa thuận này đang gây tranh cãi vì phần nào hạn chế quyền tự do tìm kiếm việc làm của NLĐ. Trong trường hợp không có quy định pháp luật điều chỉnh, thỏa thuận này có thể gây mất cân bằng lợi ích giữa NLĐ và NSDLĐ. Bài viết này phân tích một số quy định pháp luật hiện hành có liên quan đến thỏa thuận không cạnh tranh, tác động và những thách thức trong việc thực hiện thỏa thuận. Từ việc nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về thỏa thuận không cạnh tranh, bài viết sẽ gợi mở việc ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh thỏa thuận này, hướng đến sự cân bằng lợi ích giữa NLĐ và NSDLĐ nói riêng và lợi ích của thị trường lao động nói chung, trong đó, tham khảo một số kinh nghiệm có liên quan từ Trung Quốc.
Luật Cạnh tranh 2018 đã thiết lập khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, minh bạch và bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh. Trong đó, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là một trong những hành vi trọng tâm được điều chỉnh chặt chẽ do có khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực đến cấu trúc thị trường, quyền lợi của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Bài viết dưới đây làm rõ khái niệm, các dạng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, tiêu chí đánh giá tác động hạn chế cạnh tranh đáng kể, cũng như các hành vi bị nghiêm cấm có liên quan theo quy định của pháp luật cạnh tranh hiện hành.
Trong những năm trở lại đây, hoạt động thương mại diễn ra trên môi trường kỹ thuật số đang dần trở thành bước chuyển mình chủ đạo của các doanh nghiệp và đích đến của nhiều quốc gia, khi thương mại điện tử là phương tiện đối với doanh nghiệp thì pháp luật cạnh tranh sẽ là công cụ đắc lực điều chỉnh xu hướng mới. Cạnh tranh là động lực của sự phát triển, mặc dù vậy để sự phát triển được xây dựng trên một nền tảng vững chắc, pháp luật cạnh tranh cần tạo ra không gian pháp lý công bằng, bình đẳng, nơi quyền lợi của các chủ thể được bảo vệ tối ưu. Việt Nam có tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử cao trong khu vực. Theo đó việc tìm hiểu, gợi mở kinh nghiệm từ các nước là cần thiết đối với quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam.

Thông tin khác

Thông tin tuyển dụng và hướng dẫn

Nguồn: Tổng hợp
Next Post Previous Post